- 1. Quy định pháp luật về trợ cấp thôi việc đối với cán bộ, công chức
- 2. Nguồn kinh phí chi trả trợ cấp thôi việc cho cán bộ, công chức được trích từ đâu?
- 3. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong việc quản lý và chi trả trợ cấp thôi việc
- 4. Quy trình và thủ tục thực hiện chi trả trợ cấp thôi việc hiện nay
- 5. Các trường hợp không được hưởng trợ cấp thôi việc theo quy định
1. Quy định pháp luật về trợ cấp thôi việc đối với cán bộ, công chức
Chế độ trợ cấp thôi việc đối với cán bộ, công chức được xây dựng trên cơ sở Luật Cán bộ, công chức cùng các văn bản hướng dẫn thi hành, trong đó có Nghị định số 46/2010/NĐ-CP về thôi việc và thủ tục nghỉ hưu đối với công chức, đồng thời được bổ sung bởi các quy định mới liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy như Nghị định số 29/2023/NĐ-CP và Nghị định số 178/2024/NĐ-CP đối với trường hợp tinh giản, sắp xếp đơn vị hành chính.
Về bản chất pháp lý, trợ cấp thôi việc là khoản tiền do cơ quan, tổ chức hoặc đơn vị sử dụng cán bộ, công chức chi trả khi người lao động trong khu vực công chấm dứt quan hệ công vụ theo đúng quy định của pháp luật. Đây không phải là khoản tiền mang tính khen thưởng hay hỗ trợ tự nguyện mà là quyền lợi được pháp luật ghi nhận nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người thôi việc sau quá trình công tác.
Chế độ này có ý nghĩa trên nhiều phương diện. Trước hết, trợ cấp thôi việc góp phần bảo đảm an sinh trong giai đoạn chuyển tiếp khi cán bộ, công chức chấm dứt công việc tại cơ quan nhà nước và tìm kiếm cơ hội nghề nghiệp mới. Đồng thời, đây cũng là sự ghi nhận của Nhà nước đối với thời gian công tác, cống hiến của người thực hiện nhiệm vụ công vụ. Bên cạnh đó, chính sách này còn tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình cải cách hành chính, sắp xếp tổ chức bộ máy và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức theo yêu cầu thực tiễn.
Theo quy định hiện hành, việc thôi việc có thể phát sinh từ nguyện vọng của cá nhân hoặc do yêu cầu sắp xếp tổ chức, tinh giản biên chế. Mặc dù đều dẫn đến việc chấm dứt quan hệ công vụ nhưng hai trường hợp này được áp dụng chính sách trợ cấp khác nhau về điều kiện hưởng, mức hưởng và nguồn kinh phí chi trả.
Đối tượng có thể được hưởng trợ cấp thôi việc bao gồm công chức đang làm việc tại các cơ quan nhà nước từ trung ương đến cấp huyện; cán bộ, công chức cấp xã; công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý tại đơn vị sự nghiệp công lập; cùng những người làm việc trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội được giao biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Để được hưởng trợ cấp thôi việc, người thôi việc phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định, trong đó có thời gian công tác thực tế thuộc diện được tính hưởng trợ cấp, có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định và không thuộc các trường hợp pháp luật loại trừ quyền hưởng trợ cấp như bị buộc thôi việc do kỷ luật hoặc tự ý nghỉ việc trái quy định.
Đối với thôi việc thông thường theo Nghị định số 46/2010/NĐ-CP, mức trợ cấp được xác định trên cơ sở thời gian công tác tính hưởng trợ cấp và tiền lương tháng hiện hưởng. Theo nguyên tắc chung, mỗi năm làm việc được tính bằng 1/2 tháng tiền lương hiện hưởng và tổng mức hưởng tối thiểu không thấp hơn một tháng tiền lương.
Riêng đối với trường hợp nghỉ việc do sắp xếp tổ chức bộ máy theo Nghị định số 178/2024/NĐ-CP, chính sách hỗ trợ có phạm vi rộng hơn. Ngoài trợ cấp thôi việc, người nghỉ việc còn có thể được hưởng thêm khoản hỗ trợ theo thời gian đóng bảo hiểm xã hội và trợ cấp tìm việc làm nhằm bảo đảm ổn định đời sống trong quá trình chuyển đổi việc làm.
2. Nguồn kinh phí chi trả trợ cấp thôi việc cho cán bộ, công chức được trích từ đâu?
Nguồn kinh phí chi trả trợ cấp thôi việc được quản lý theo nguyên tắc cơ quan, tổ chức hoặc đơn vị trực tiếp sử dụng cán bộ, công chức có trách nhiệm bố trí và thực hiện chi trả theo đúng quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
Đối với các cơ quan hành chính nhà nước và tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, kinh phí chi trả trợ cấp thôi việc được bố trí trong dự toán chi hoạt động thường xuyên được cấp có thẩm quyền giao hằng năm. Khi xây dựng dự toán ngân sách, đơn vị cần chủ động đánh giá nhu cầu nhân sự, số lượng công chức dự kiến nghỉ việc để xác định đầy đủ nguồn kinh phí cần thiết.
Trường hợp phát sinh số lượng công chức thôi việc ngoài dự kiến dẫn đến thiếu nguồn chi, đơn vị sử dụng ngân sách phải lập hồ sơ đề nghị cấp bổ sung kinh phí và gửi cơ quan tài chính có thẩm quyền xem xét. Việc thiếu dự toán không phải là căn cứ để từ chối hoặc kéo dài thời gian giải quyết chế độ cho người đủ điều kiện hưởng trợ cấp.
Đối với đơn vị sự nghiệp công lập, nguồn kinh phí chi trả phụ thuộc vào mức độ tự chủ tài chính của đơn vị.
Nếu đơn vị tự bảo đảm toàn bộ chi thường xuyên thì kinh phí trợ cấp thôi việc được chi từ nguồn thu hoạt động sự nghiệp và các nguồn tài chính hợp pháp của đơn vị.
Nếu đơn vị được ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ hoặc một phần chi thường xuyên thì kinh phí được sử dụng từ dự toán ngân sách được giao kết hợp với nguồn thu sự nghiệp theo quy định về cơ chế tự chủ tài chính.
Đối với cán bộ, công chức cấp xã, nguồn kinh phí thường do ngân sách cấp huyện hoặc cấp tỉnh bảo đảm theo phân cấp quản lý ngân sách của từng địa phương. Thông thường, UBND cấp xã lập hồ sơ đề nghị, Phòng Nội vụ thực hiện thẩm định, Phòng Tài chính - Kế hoạch tổng hợp và trình UBND cấp huyện quyết định cấp kinh phí để thực hiện chi trả.
Cần phân biệt nguồn kinh phí trợ cấp thôi việc thông thường với nguồn kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế hoặc sắp xếp tổ chức bộ máy. Đối với các trường hợp thuộc diện tinh giản theo Nghị định số 178/2024/NĐ-CP, kinh phí được bố trí từ ngân sách nhà nước theo chương trình hoặc đề án được cấp có thẩm quyền phê duyệt, không hạch toán chung với nguồn chi hoạt động thường xuyên của đơn vị.
3. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong việc quản lý và chi trả trợ cấp thôi việc
Cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng cán bộ, công chức có trách nhiệm quản lý, bố trí và sử dụng nguồn kinh phí trợ cấp thôi việc đúng mục đích, đúng đối tượng và đúng quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
Ngay từ giai đoạn xây dựng dự toán ngân sách hằng năm, đơn vị phải chủ động dự báo nhu cầu nhân sự, số lượng người dự kiến nghỉ việc và nguồn kinh phí cần thiết để bảo đảm khả năng chi trả khi phát sinh chế độ.
Khi tiếp nhận đơn xin thôi việc, cơ quan quản lý có trách nhiệm xem xét điều kiện hưởng trợ cấp, xác minh thời gian công tác, thời gian tham gia bảo hiểm xã hội, tiền lương làm căn cứ tính hưởng và các yếu tố liên quan khác nhằm bảo đảm việc xác định mức trợ cấp chính xác.
Sau khi đủ điều kiện giải quyết, người đứng đầu cơ quan hoặc người có thẩm quyền phải ban hành quyết định thôi việc, trong đó xác định rõ căn cứ pháp lý, mức trợ cấp được hưởng và nguồn kinh phí thực hiện.
Đơn vị sử dụng ngân sách đồng thời có trách nhiệm lập đầy đủ hồ sơ thanh toán gửi Kho bạc Nhà nước theo quy định, thực hiện chi trả đúng thời hạn và quyết toán khoản chi trong báo cáo quyết toán ngân sách hằng năm.
Nếu phát sinh thiếu kinh phí, cơ quan phải chủ động lập hồ sơ đề nghị cấp bổ sung, không được lấy lý do chưa được cấp kinh phí để từ chối hoặc kéo dài việc chi trả cho người đủ điều kiện hưởng chế độ.
Trong quá trình quản lý tài chính, cơ quan còn phải bảo đảm việc sử dụng ngân sách đúng đối tượng, tránh chi sai hoặc chi cho người không đủ điều kiện. Việc chi trả không đúng quy định có thể dẫn đến trách nhiệm thu hồi kinh phí, xử lý trách nhiệm của tập thể, cá nhân liên quan và phát sinh nghĩa vụ bồi hoàn theo quy định của pháp luật.
4. Quy trình và thủ tục thực hiện chi trả trợ cấp thôi việc hiện nay
Quy trình giải quyết trợ cấp thôi việc được thực hiện theo trình tự chặt chẽ nhằm bảo đảm quyền lợi của cán bộ, công chức cũng như tính minh bạch trong quản lý ngân sách nhà nước.
Bước đầu tiên, cán bộ, công chức có nhu cầu thôi việc gửi đơn đề nghị đến cơ quan quản lý trực tiếp theo quy định.
Sau khi tiếp nhận hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền tiến hành xem xét điều kiện thôi việc, kiểm tra hồ sơ nhân sự, xác định thời gian công tác được tính hưởng trợ cấp, đối chiếu quá trình đóng bảo hiểm xã hội và xác định nguồn kinh phí thực hiện.
Khi đủ điều kiện, người có thẩm quyền ban hành quyết định thôi việc, trong đó ghi rõ thời điểm nghỉ việc, mức trợ cấp được hưởng và nguồn kinh phí chi trả.
Căn cứ quyết định thôi việc, bộ phận tài chính - kế toán lập bảng tính trợ cấp, hoàn thiện hồ sơ thanh toán và gửi Kho bạc Nhà nước để thực hiện kiểm soát chi theo quy định.
Hồ sơ phục vụ thanh toán thường bao gồm quyết định thôi việc, bảng tính mức trợ cấp có xác nhận của kế toán trưởng và thủ trưởng đơn vị, tài liệu chứng minh thời gian tham gia bảo hiểm xã hội cùng các biểu mẫu theo quy định của cơ quan tài chính.
Sau khi hồ sơ được kiểm soát đầy đủ, cơ quan sử dụng ngân sách thực hiện chi trả trợ cấp cho người thôi việc. Theo quy định, việc thanh toán phải được thực hiện trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định thôi việc có hiệu lực.
Sau khi hoàn thành việc chi trả, khoản kinh phí này tiếp tục được tổng hợp, hạch toán và quyết toán trong báo cáo quyết toán ngân sách của đơn vị theo quy định về quản lý tài chính công.
5. Các trường hợp không được hưởng trợ cấp thôi việc theo quy định
Không phải mọi trường hợp chấm dứt quan hệ công vụ đều được hưởng trợ cấp thôi việc. Pháp luật quy định rõ một số trường hợp không thuộc diện được chi trả nhằm bảo đảm sử dụng ngân sách nhà nước đúng mục đích.
Trường hợp phổ biến nhất là công chức bị áp dụng hình thức kỷ luật buộc thôi việc. Khi bị buộc thôi việc do vi phạm pháp luật hoặc vi phạm kỷ luật công vụ ở mức nghiêm trọng, người đó không được hưởng trợ cấp thôi việc và cơ quan cũng không được sử dụng kinh phí ngân sách để chi trả khoản trợ cấp này.
Người tự ý nghỉ việc hoặc nghỉ việc không đúng trình tự, thủ tục theo quy định cũng không được hưởng trợ cấp. Việc nghỉ việc khi chưa được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận hoặc không thực hiện nghĩa vụ báo trước theo quy định có thể dẫn đến việc mất quyền hưởng chế độ và phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác nếu có cam kết đào tạo hoặc bồi dưỡng.
Ngoài ra, cơ quan có thẩm quyền chưa xem xét giải quyết thôi việc và chưa thực hiện chi trả trợ cấp đối với người đang trong quá trình xem xét xử lý kỷ luật, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thuộc các trường hợp pháp luật quy định chưa được giải quyết thôi việc.
Việc chi trả cũng chưa được thực hiện khi cán bộ, công chức chưa hoàn thành nghĩa vụ bàn giao công việc, tài sản, hồ sơ hoặc chưa thanh toán các khoản công nợ với cơ quan theo quy định.
Trong một số trường hợp đặc biệt, khi người có đơn xin thôi việc đang thực hiện nhiệm vụ quan trọng, nhiệm vụ cấp bách hoặc chưa có người thay thế theo yêu cầu quản lý, cơ quan có thẩm quyền có thể chưa chấp thuận việc thôi việc. Khi chưa có quyết định thôi việc hợp pháp thì cũng chưa phát sinh căn cứ để chi trả trợ cấp.
Việc xác định đúng các trường hợp được hưởng và không được hưởng trợ cấp thôi việc có ý nghĩa quan trọng trong quản lý ngân sách nhà nước, đồng thời bảo đảm việc thực hiện chính sách đối với cán bộ, công chức được thống nhất, minh bạch và đúng quy định của pháp luật.
Ngoài ra quý bạn đọc cũng có thể xem thêm: