Mục lục bài viết
- 1. Khái quát chung
- 2. Bị can có niềm tin vào khả năng che giấu tội, làm giảm trách nhiệm của mình bằng cách không khai hoặc gian dối
- 3. Bị can sợ làm liên lụy, ảnh hưởng tới uy tín, danh dự, quyền lợi của gia đình, người thân của họ
- 4. Đặc điểm tính cách ngang bướng của bị can
- 5. Bị can không khai báo do bi quan, thất vọng
- 6. Bị can không khai hoặc khai báo gian dối do không tin, không phục cán bộ điều tra
- 7. Bị can tin tưởng vào sự che chắn, cứu giúp nào đó từ bên ngoài hoặc hy vọng vào sự mua chuộc
- 8. Bị can có ý thức coi thường pháp luật, coi thường sự trừng phạt
- 9. Bị can sợ bị đồng bọn trả thù
- 10. Bị can sợ phải bồi thường thiệt hại
- 11. Đặc điểm thái độ khai báo của bị can
1. Khái quát chung
Trong thực tế hỏi cung, bị can có nhiều biểu hiện khai cung khác nhau, khai cung tích cực, thành khẩn, đầy đủ, chính xác, khai nhỏ giọt, hỏi gì khai đấy, tích cực khai bịa đặt, giả dối, ngoan cố không khai.
Nhìn tổng quát có thể chia thành hai loại: loại khai cung tốt và loại khai cung không tốt. Bị can khai cung như thế nào, là do sự quyết định trực tiếp của nguyên nhân tâm lý. Vì vậy, việc tìm hiểu nguyên nhân tâm lý làm cho bị can khai cung không tốt có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ đối với quá trình hỏi cung mà cả đối với cán bộ điều tra. Theo kết quả nghiên cứu, tham khảo ý kiến của cán bộ điều tra hiện nay, tình trạng khai cung không tốt của bị can có những nguyên nhân tâm lý sau:
2. Bị can có niềm tin vào khả năng che giấu tội, làm giảm trách nhiệm của mình bằng cách không khai hoặc gian dối
Đây là nguyên nhân rất phổ biến ở bị can và là nguyên nhân tâm lý phức tạp nhất bởi xuất phát từ niềm tin bên trong của bị can. Bị can tin rằng nếu không khai thì cơ quan điều tra sẽ không có đủ chứng cứ kết tội, do đó có thể trốn tránh một phần trách nhiệm. Hoặc bị can tin rằng bằng việc khai gian dối có thể dẫn hoạt động điều tra đi chệch hướng, tội lỗi của bị can sẽ được giảm nhẹ vì sự thật không được tìm ra. Chừng nào ở bị can còn tồn tại niềm tin này thì bị can chưa thể khai báo thành khẩn. Cán bộ điều tra cần có tác động để phá vỡ niềm tin đó ở bị can.
3. Bị can sợ làm liên lụy, ảnh hưởng tới uy tín, danh dự, quyền lợi của gia đình, người thân của họ
Đây cũng là nguyên nhân tâm lý tương đối phổ biến ở bị can hiện nay. Bị can sợ việc khai nhận sự thật, thừa nhận tội lỗi thì vợ con, gia đình sẽ bị xung quanh khinh rẻ, mất việc làm, con cái bị bạn bè chê cười... sợ ảnh hưởng đến uy tín cha mẹ, vợ hoặc chồng, sợ làm liên lụy đến người thân vì thông thường, những người thân của bị can đều ít nhiều liên quan hoặc biết hành vi phạm tội của họ. Đây là một nguyên nhân tâm lý cản trở việc khai báo thành khẩn của bị can nhưng đó cũng là một biểu hiện tình cảm tốt, biểu hiện của tình người mặc dù không đúng hướng. Là một cơ sở quan trọng để cán bộ điều tra đặt niềm tin vào khả năng, thuyết phục thức tỉnh những điều tốt đẹp ở bị can, làm chuyển đổi thái độ khai báo của họ.
4. Đặc điểm tính cách ngang bướng của bị can
Ở một số bị can, việc không khai báo thành khẩn là xuất phát từ đặc điểm tâm lý bền vững đã có ở bị can từ trước, đó là tính cách ngang bướng, muốn làm ngược ý người khác, muốn tỏ sự khác người, tỏ rõ sự “dũng cảm” của mình. Nguyên nhân tâm lý này thường thấy ở những bị can ít tuổi, trình độ văn hoá thấp, có niềm tin mù quáng vào đó. Với những bị can này, việc thuyết phục, cảm hoá hoặc sử dụng chứng cứ đấu tranh đều ít tác dụng nhưng thuận lợi cho sử dụng tác động tâm lý kích động tính kiêu ngạo “bốc đồng” của bị can. Tuy nhiên, trong hỏi cung, cán bộ điều tra cần chú ý phải lấy giáo dục, cảm hóa bị can là chính, không nên quá lạm dụng dùng phương pháp kích thích tâm lý để kích động bị can.
5. Bị can không khai báo do bi quan, thất vọng
Trong nhiều trường hợp bị can từ chối khai báo, từ chối tiếp xúc với cán bộ điều tra do nguyên nhân bị can quá bi quan, thất vọng, cho rằng mình không còn tương lai, cuộc đời như vậy là hết... từ đó tỏ ra tiêu cực không quan tâm đến xung quanh, đến hoạt động điều tra, không khai báo hoặc ngược lại có trường hợp nhận tội bừa ẩu. Nguyên nhân này thường gặp ở những bị can phạm tội lần đầu, do bị lôi kéo, cưỡng ép mà phạm tội, phạm tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc do hoàn cảnh đặc biệt nào đó mà phạm tội. Đây là nguyên nhân tâm lý thuộc dạng tiêu cực. Cán bộ điều tra cần tác động gợi cho bị can một hy vọng tương lai đưa tới cho bị can sự an ủi cần thiết để kéo bị can ra khỏi tâm trạng thất vọng, từ đó dẫn tới hành động khai báo đúng đắn.
6. Bị can không khai hoặc khai báo gian dối do không tin, không phục cán bộ điều tra
Không ít trường hợp bị can từ chối khai báo hoặc khai báo gian dối khi cán bộ điều tra này hỏi nhưng lại khai báo tốt khi cán bộ điều tra khác hỏi. Thực tế đó có nguyên nhân tâm lý là bị can không tin, không phục cán bộ điều tra. Điều đó có thể do qua tiếp xúc, cán bộ điều tra đã làm cho bị can có ác cảm, có nhận thức tiêu cực, không tin tưởng vào sự khách quan vô tư, độ lượng của cán bộ điều tra trong hoạt động điều tra. Cũng có thể do quan hệ không tốt đã có từ trước giữa cán bộ điều tra và bị can, hoặc có thể do cách tác động của cán bộ điều tra không phù hợp làm cho bị can ức chế, dẫn đến coi thường, không phục cán bộ điều tra. Vì vậy, trong các cuộc tiếp xúc, cán bộ điều tra cần hết sức chú ý tránh không để cho bị can có nhận thức sai lầm, tiêu cực về mình và tránh gây cho bị can những ấn tượng không tốt.
7. Bị can tin tưởng vào sự che chắn, cứu giúp nào đó từ bên ngoài hoặc hy vọng vào sự mua chuộc
Đây là nguyên nhân tâm lý phản ánh đặc trưng của tội phạm trong điều kiện kinh tế thị trường, do ảnh hưởng của mặt tiêu cực xã hội. Nguyên nhân tâm lý này có ở các loại bị can phạm các tội khác nhau. Có bị can do có người thân hoặc có quan hệ quen thân với người công tác trong các cơ quan tiến hành tố tụng và hy vọng vào sự cứu giúp của họ. Có bị can do có quan hệ nào đó với một số cán bộ trong các cơ quan tiến hành tố tụng hoặc cán bộ có chức quyền nào đó và tin tưởng, ỷ lại vào sự che chở, chạy chọt của họ, cho rằng cán bộ này sẽ phải che chở cho bị can vì sự ràng buộc nào đó. Có bị can không hề có các quan hệ này, nhưng lại hy vọng có thể mua chuộc cán bộ điều tra, hoặc cán bộ có chức quyền nào đó để họ can thiệp, giúp đỡ. Nhìn chung, những bị can phạm các tội về kinh tế như buôn lậu, buôn bán hàng cấm, vi phạm chế độ quản lý đất đai, quản lý nhà ở... đều có biểu hiện tâm lý trên. Vì thông thường, để thực hiện hành vi phạm tội loại này, bị can thường dựa vào các quan hệ xã hội “thân quen hoặc làm ăn” với một số cá nhân có cương vị xã hội nào đó. Chính vì vậy, việc thuyết phục, cảm hóa hoặc đấu tranh với các bị can này rất phức tạp. Cán bộ điều tra phải sử dụng các tác động tâm lý để phá tan niềm tin tiêu cực này của bị can.
8. Bị can có ý thức coi thường pháp luật, coi thường sự trừng phạt
Đây là nguyên nhân tâm lý xuất phát từ nhận thức sai lầm của bị can, họ không nhận thức được ý nghĩa của các quy phạm pháp luật, thiếu ý thức tôn trọng các chuẩn mực xã hội. Khi bị khởi tố, bị bắt, chúng coi đó là chuyện thường tình, coi sự tù tội là “ngủ trọ qua đêm”. Do vậy, chúng tỏ ra bàng quan, trâng tráo, coi thường cán bộ điều tra và cơ quan điều tra.
Nguyên nhân này thường gặp phổ biến ở các bị can đã có nhiều tiền án, tiền sự, đặc biệt là các bị can phạm tội có tính chuyên nghiệp, coi hoạt động phạm tội là “nghề nghiệp”, là “lẽ sống” của chúng. Trong hoạt động hỏi cung, ý thức coi thường pháp luật của bị can là vấn đề cần đặc biệt lưu ý, vì sự coi thường pháp luật sẽ dẫn tới thái độ trâng tráo, khai báo gian dối, khiêu khích đối với cán bộ điều tra, gây khó khăn lớn cho hỏi cung.
9. Bị can sợ bị đồng bọn trả thù
Một trong những nguyên nhân tâm lý cản trở sự khai báo của bị can là bị can sợ nếu khai ra sự thật sẽ bị đồng bọn trả thù, xử phạt. Loại nguyên nhân này thường gặp ở những bị can của những vụ đồng phạm, những bị can là thành viên của các ổ nhóm phạm tội. Trong các ổ nhóm phạm tội hoặc quan hệ giữa các cá nhân hoạt động phạm tội với nhau, sự liên kết giữa chúng tồn tại trên cơ sở cái gọi là “luật rừng”. Khi bị bắt, nhiều bị can muốn khai báo để hưởng khoan hồng song lại sợ nếu mình là người khai báo trước, khi về buồng giam hoặc sau này sẽ bị “đại ca” hoặc đồng bọn "xử lý" do đó thường khai báo loanh quanh nhỏ giọt, lời khai không ổn định. Đặc biệt những trường hợp trong ổ nhóm phạm tội đó, những tên cầm đầu, hung hãn còn chưa bị bắt, thì những tên đã bị bắt rất sợ bị trả thù không chỉ với bản thân mà còn cả với gia đình, vợ con chúng. Trong hỏi cung loại bị can này, cán bộ điều tra cần có tác động phá vỡ cơ sở của sự sợ hãi đó ở bị can, hoặc tác động làm cho ở bị can nảy sinh một vấn đề tâm lý mới, lấn át được nỗi sợ hãi đó thì bị can mới khai báo tốt được.
10. Bị can sợ phải bồi thường thiệt hại
Ngoài những trường hợp do lo sợ về trách nhiệm hình sự mà không khai báo thành khẩn, còn có không ít trường hợp bị can khai báo quanh co, đổ lỗi cho người khác vì lý do sợ phải bồi thường dân sự về thiệt hại mà bị can gây ra. Loại nguyên nhân này thường gặp ở những bị can phạm các tội mà hậu quả tội phạm là các thiệt hại về kinh tế. Giá trị thiệt hại có thể không lớn (chưa đạt tới mức thiệt hại nghiêm trọng theo quy định của luật hình sự) nhưng đối với khả năng kinh tế của bị can thì việc bồi thường sẽ khó khăn hoặc bị can nhận thức rằng thiệt hại họ gây ra quá lớn. Nguyên nhân tâm lý này không phải là nguyên nhân chính, nhưng dù sao nó cũng là một yếu tố cản trở sự khai báo thành khẩn của bị can. Phát hiện chính xác và tác động giúp cho bị can thoát khỏi sự lo sợ này là rất cần thiết để bị can khai báo tốt.
11. Đặc điểm thái độ khai báo của bị can
Ngoài những đặc điểm tâm lý cá nhân, do hoàn cảnh tố tụng mà ở bị can xuất hiện những đặc điểm tâm lý hoàn cảnh như trên. Những đặc điểm đó chi phối, tạo ra ở bị can cụ thể những thái độ khai báo khác nhau. Nhưng nhìn chung có thể chia làm hai loại thái độ sau:
Thái độ tiêu cực trong khai báo.
Thái độ tiêu cực trong khai báo là thái độ không thuận lợi cho hoạt động hỏi cung, biểu hiện ở sự thờ ơ không quan tâm đến hỏi cung và hoạt động điều tra của bị can. Bị can không có hưng phấn, không để ý đến tác động xung quanh. Khi gọi hỏi, bị can từ chối không khai hoặc khai qua loa, đại khái, khai nhận bừa, ẩu gây khó khăn cho hỏi cung. Thái độ tiêu cực này thường gặp ở những bị can bị rơi vào trạng thái tâm lý bi quan, chán chường cho rằng mọi việc đã được định sẵn và phó mặc cho số phận, do đó không quan tâm đến hỏi cung, khai báo qua loa, bừa bãi hoặc không khai. Hoặc ở những bị can rơi vào trạng thái quá sợ hãi, đau khổ, dằn vặt nội tâm, không còn đủ khả năng tiếp nhận các tác động xung quanh, không thể nhớ chính xác và trình bày lại rõ ràng về các chi tiết các vấn đề liên quan đến tội phạm và cả những vấn đề khác. Muốn để họ khai cung được, cán bộ điều tra cần có tác động giúp đỡ gợi ý, để bị can có thể khai báo được đúng về những vấn đề cần thiết.
Nhìn chung khi bị can ở vào trạng thái tiêu cực thì hỏi cung không thể đạt được kết quả, thậm chí không thể tiến hành được. Vì vậy, để hỏi cung đạt kết quả, cán bộ điều tra trước hết phải có tác động kéo họ ra khỏi trạng thái tâm lý bị ức chế để chuyển sang trạng thái tích cực, quan tâm đến hỏi cung, đến hoạt động điều tra và tích cực tham gia vào hoạt động này.
Thái độ khai báo mang tính chất hưng phấn
Là thái độ của bị can luôn quan tâm đến hoạt động điều tra, luôn có hưng phấn tâm lý, sẵn sàng tham gia và hướng tới các cuộc tiếp xúc. Tùy thuộc vào đặc điểm tâm lý của cá nhân và sự chi phối của các yếu tố như: hậu quả tội phạm, vai trò của bị can trong đồng phạm, sự tác động của cán bộ điều tra và của hoàn cảnh tố tụng ... mà sự tích cực của bị can được biểu hiện theo hai hướng, hai dạng cụ thể:
Thái độ hưng phấn dạng theo hướng thành khẩn: Là thái độ khai báo đầy đủ, chính xác theo yêu cầu của cán bộ điều tra và cơ quan điều tra. Bị can có sự tích cực, chủ động trong khai báo, không có biểu hiện gian dối, bịa đặt, giúp cho cán bộ điều tra nhanh chóng hoàn thành hồ sơ đầy đủ chính xác, giúp hoạt động điều tra đi đúng hướng.
Loại thái độ này chỉ có ở những bị can có nhận thức rõ lỗi của mình, có sự ân hận và mong muốn chuộc lại lỗi lầm, nhận thức được rõ trách nhiệm, thừa nhận sự trừng phạt của pháp luật hoặc bị can nhận thức rằng lỗi của mình không nặng, hy vọng sẽ được khoan hồng. Đối với những bị can này, cán bộ điều tra cần động viên khuyến khích họ.
Thái độ hưng phấn theo hướng giả dối: Là thái độ biểu hiện sự hưng phấn của bị can nhưng hướng tới những hành động với mục đích làm lệch hướng hoạt động điều tra, với hy vọng trốn tránh hoặc làm giảm trách nhiệm hình sự của họ, hoặc cố tình gây khó khăn chống đối hoạt động điều tra.
Nguyên nhân của thái độ này là do bị can nhận thức rằng hành động của chúng có thể cản trở, làm lệch hướng hoạt động điều tra, che giấu được sự thật hoặc do bị can nhận thức rằng hình phạt đối với chúng đã được định sẵn, nên cố tình gây rối, khiêu khích cán bộ điều tra, cản trở hoạt động điều tra. Thái độ hưng phấn giả dối của bị can biểu hiện ở sự tích cực bịa đặt và cung cấp cho cán bộ điều tra những thông tin giả một cách chủ động, sự quan tâm thái quá đến hoạt động điều tra, mong muốn tiếp xúc với cán bộ điều tra để tác động ngược làm lệch hướng điều tra. Sự tích cực còn thể hiện ở những hành động tích cực nhằm thủ tiêu tang vật, chứng cứ, tạo tài liệu giả, đe dọa người làm chứng và tố cáo, đổ lỗi cho đồng bọn.
Khi ở bị can có thái độ hưng phấn theo hướng giả dối, bị can thường có biểu hiện chủ động quan tâm đến việc tiếp xúc với cán bộ điều tra. Lời khai của chúng thường có lôgíc hình thức hợp lý theo hướng “có lợi” cho bị can. Chúng tỏ ra tích cực khai báo về những chi tiết đã rõ, những vấn đề mà cán bộ điều tra đã có tài liệu tương đối đầy đủ. Cán bộ điều tra cũng có thể nhận được lời khai về những tình tiết mà mình không hề biết, nhưng ít có giá trị chứng minh tội lỗi của bị can. Nhiều khi bị can còn tự yêu cầu được khai cung, nhưng nội dung thường đổ lỗi cho người khác và cho hoàn cảnh. Thông thường bị can giả vờ khai lung tung, lộn xộn, giả vờ ngờ nghệch, để lộ những “bí mật” đời tư để đánh lừa cán bộ điều tra làm cho cán bộ điều tra coi thường, không để ý đến thủ đoạn của chúng hoặc bị can xin được viết tự khai và trình bày một cách chi tiết, rõ ràng, những tình tiết của sự kiện phạm tội. Có thể có cả những lời tự lên án “nghiêm khắc” và nhận tội “thành khẩn” những chi tiết được khai nhận và sắp xếp theo lôgíc hết sức hợp lý. Dạng lời cung này thường gặp ở những bị can có trình độ hiểu biết cao. Và trong các buổi hỏi cung, các bị can này có tác động trực tiếp trở lại cán bộ điều tra. Vì vậy, cán bộ điều tra cần hết sức cảnh giác khi gặp phải thái độ khai cung này ở bị can.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê