1. Nguyên tắc chung luật quốc tế
Trong quan hệ quốc tế, các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế được coi là thước đo giá trị hợp pháp của tất cả các quy phạm pháp lý quốc tế khác. Mọi điều ước quốc tế và tập quán quốc tế để trở thành nguồn của pháp luật quốc tế và có giá trị rang buộc các bên phải có nội dung phù hợp với những nguyên tắc cơ bản này.
Tại kì họp kỉ niệm lần thứ XXV ngày thành lập Liên hợp quốc 24.10.1970, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã nhất trí thông qua nghị quyết quan trọng có tính chấp pháp điển hoá những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế. Đó chính là Bản tuyên bố về những nguyên tắc của luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị hợp tác giữa các quốc gia. Theo bản tuyên bố này, có 7 nguyên tắc cơ bản bao gồm:
1) Cấm dung vũ lực và đe dọa dung vũ lực chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ và nền độc lập chính trị của nước khác nhằm mục đích trái với hiến chương Liên hợp quốc;
2) Giải quyết tranh chấp quốc tế bằng các phương pháp hòa bình;
3) Không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác;
4) Các quốc gia có nghĩa vụ phải hợp tác với nhau;
2. Nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế là gì ?
Nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế là những tư tưởng chính trị, pháp lý mang tính chỉ đạo, bao trùm, có giá trị bắt buộc chung (Jus cogens) đối với mọi chủ thể luật quốc tế. Trong luật quốc tế, các nguyên tắc cơ bản tồn tại dưới dạng những quy phạm Jus cogens được ghi nhận ở điều ước quốc tế và tập quán quốc tế.
Nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế thực hiện hai chức năng quan trọng là ổn định quan hệ quốc tế và ấh định khuồn khổ xử sự cho các chủ thể trọng quan hệ quốc tế, qua đó tạo điều kiện cho quan hệ quốc tế phát triển.
3. Đặc điểm của các nguyên tắc cơ bản luật quốc tế
Nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế có đặc trưng quan trọng là tính mệnh lệnh bắt buộc chung. Điều đó có nghĩa là tất cả các chủ thể đều phải tuyệt đối tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, bất kỳ vi phạm nào cũng sẽ tất yếu tác động đến lợi ích của các chủ thể khác của quan hệ quốc tế. Không một chủ thể hay nhóm chủ thể nào củà luật quốc tế có quyền huỷ bỏ nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế. Bất kỳ hành vi đơn phương nào khồng tuân thủ triệt để nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế đều bị coi là sự vi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc tế. Các quy phạm điều ước và tập quán quốc tế có nội dung trái vói các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế đều không có giá trị pháp lý.
Nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế là chuẩn mực để xác định tính hợp pháp của toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp lý quốc tế. Các nguyên tắc cơ bản thậm chí còn tác động đến cả những lĩnh vực quần hệ của các chủ thể mà chưa được quy phạm cụ thể điều chỉnh. Nguyên tắc cơ bản chính là cơ sở của trật tự pháp lý quốc tế.
Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế có quan hệ mật thiết với nhau trong một chỉnh thể thống nhất theo nghĩa có sợ ràng buộc qua lại giữa các nguyên tắc về nội dung và yêu cầu thực hiện những nội dung đó. Do đó, khi giải thích và áp dụng, cần phải xem xét từng nguyên tắc trong mối quan hệ với các nguyên tắc khác.
Nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế được ghi nhận rộng rãi trong các văn kiện quốc tế. Văn bản pháp lý quốc tế quan trọng nhất ghi nhận những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế là Hiến chương Liên hợp quốc. Các nguyên tắc của Hiến chương mang tính bắt buộc chung đối vói tất cả các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế, thậm chí đối với cả quốc gia không phải là thành viên của Liên hợp quốc.
Cùng vói Hiến chương, Liên hợp quốc đã thông qua Tuyên bố về các nguyên tắc của luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia ngày 11/01/1970. Tuyên bố này chứa đựng những nội dung cơ bản nhất của bảy nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế.
Ngoài ra, các nguyên tắc này cũng được đề cập trong một loạt văn kiện quốc tế quan trọng khác như Định ước Hen-xin-ki ngày1/8/1975 về an ninh và hợp tác các nước châu Âu, Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam Á và một số văn kiên quan trọng khác. Các nguyên tắc này cũng được ghi nhân trong rất nhiều điều ước song phương giữa các nước, như Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ ký ngày 13/7/2000, Hiệp định biên giới Việt - Trung năm 1999...
5) Các dân tộc có quyền bình đẳng và tự quyết;
6) Các quốc gia bình đẳng về chủ quyền;
7) Tôn trọng các cam kết quốc tế (Pacta sunt Servanda).
Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)