Căn cứ pháp lý:

- Hiến pháp năm 2013;

- Luật quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017;

1. Tài sản công là gì?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017 về giải thích từ ngữ 

“Tài sản công là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, bao gồm: tài sản công phục vụ hoạt động quản lý, cung cấp dịch vụ công, bảo đảm quốc phòng, an ninh tại cơ quan, tổ chức, đơn vị; tài sản kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân; tài sản công tại doanh nghiệp; tiền thuộc ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, dự trữ ngoại hối nhà nước; đất đai và các loại tài nguyên khác.”

2. Phân loại tài sản công

Tài sản công được phân chia thành 07 nhóm bao gồm:

Nhóm 1: Tài sản công phục vụ hoạt động quản lý, cung cấp dịch vụ công, bảo đảm quốc phòng, an ninh của cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật về hội, trừ tài sản của dự án sử dụng vốn nhà nước (gọi là tài sản công tại cơ quan, tổ chức, đơn vị).

Nhóm 2: Tài sản kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng là các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật, công trình kết cấu hạ tầng xã hội và vùng đất, vùng nước, vùng biển gắn với các công trình kết cấu hạ tầng, bao gồm: hạ tầng giao thông, hạ tầng cung cấp điện, hạ tầng thủy lợi và ứng phó với biến đổi khí hậu, hạ tầng đô thị, hạ tầng cụm công nghiệp, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao, hạ tầng thương mại, hạ tầng thông tin, hạ tầng giáo dục và đào tạo, hạ tầng khoa học và công nghệ, hạ tầng y tế, hạ tầng văn hóa, hạ tầng thể thao, hạ tầng du lịch và hạ tầng khác theo quy định của pháp luật (sau đây gọi là tài sản kết cấu hạ tầng).

Nhóm 3: Tài sản công tại doanh nghiệp.

Nhóm 4: Tài sản của dự án sử dụng vốn nhà nước.

Nhóm 5: Tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân theo quy định của pháp luật bao gồm: Tài sản bị tịch thu; tài sản vô chủ, tài sản không xác định được chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bỏ quên, tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, bị chìm đắm được tìm thấy, tài sản không có người nhận thừa kế và tài sản khác thuộc về Nhà nước theo quy định của Bộ luật Dân sự; tài sản do chủ sở hữu tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước; tài sản do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển giao không bồi hoàn cho Nhà nước Việt Nam theo cam kết sau khi kết thúc thời hạn hoạt động; tài sản được đầu tư theo hình thức đối tác công – tư được chuyển giao cho Nhà nước Việt Nam theo hợp đồng dự án;

Nhóm 6: Tiền thuộc ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách và dự trữ ngoại hối nhà nước.

Nhóm 7: Đất đai; tài nguyên nước, tài nguyên rừng, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, kho số viễn thông và kho số khác phục vụ quản lý nhà nước, tài nguyên Internet, phổ tần số vô tuyến điện, quỹ đạo vệ tinh và các tài nguyên khác do Nhà nước quản lý theo quy định của pháp luật.

3. Nguyên tắc quản lý, sử dụng tài sản công

Để quản lý, sử dụng có hiệu quả tài sản công cần tuân thủ một số nguyên tắc sau đây:

+ Mọi tài sản công đều phải được Nhà nước giao quyền quản lý, quyền sử dụng và các hình thức trao quyền khác cho cơ quan, tổ chức, đơn vị và đối tượng khác theo quy định của Luật và pháp luật có liên quan. Nguyên tắc này thể thể hiện sự bình đẳng giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị và các đối tượng khác trong việc sử dụng tài sản công.

+ Tài sản công do Nhà nước đầu tư phải được quản lý, khai thác, duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa, được thống kê, kế toán đầy đủ về hiện vật và giá trị, những tài sản có nguy cơ chịu rủi ro cao do thiên tai, hoả hoạn và nguyên nhân bất khả kháng khác được quản lý rủi ro về tài chính thông qua bảo hiểm hoặc công cụ khác theo quy định của pháp luật.

+ Tài sản công là tài nguyên phải được kiểm kê, thống kê về hiện vật, ghi nhận thông tin phù hợp với tính chất, đặc điểm của tài sản; được quản lý, bảo vệ, khai thác theo quy hoạch, kế hoạch, bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả, đúng pháp luật.

+ Tài sản công phục vụ công tác quản lý, cung cấp dịch vụ công, bảo đảm quốc phòng, an ninh của cơ quan, tổ chức, đơn vị phải được sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, đúng mục đích, công năng, đối tượng, tiêu chuẩn, định mức, chế độ theo quy định của pháp luật.

+ Việc khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công phải tuân theo cơ chế thị trường, có hiệu quả, công khai, minh bạch, đúng pháp luật.

+ Việc quản lý, sử dụng tài sản công phải được thực hiện công khai, minh bạch, bảo đảm thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng, chống tham nhũng.

+ Việc quản lý, sử dụng tài sản công được giám sát, thanh tra, kiểm tra, kiểm toán; mọi hành vi vi phạm pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công phải được xử lý kịp thời, nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

Các quy định của Luật quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017 sẽ góp phần quan trọng, nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản công ở nước ta hiện nay.

4. Quan điểm xây dựng Luật quản lý, sử dụng tài sản công

1. Tiếp tục thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng, huy động, khai thác, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả nguồn lực từ tài sản công để phát triển kinh tế - xã hội . Thể chế hóa Điều 53 Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tất cả các loại tài sản công đều được quản lý chặt chẽ, hiệu quả bằng pháp luật; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với các Luật có liên quan như: Luật về tổ chức bộ máy nhà nước, Luật ngân sách nhà nước, Luật kiểm toán nhà nước…

2. Xây dựng những nguyên tắc chung nhất trong quản lý, sử dụng tài sản công theo hướng bao quát đầy đủ phạm vi, đối tượng, nội dung liên quan đến quản lý, sử dụng tài sản công; kế thừa những nội dung, quy định hiện hành còn phù hợp, đã được thực hiện ổn định, có hiệu quả trong thực tế; sửa đổi những quy định không còn phù hợp với thực tế và yêu cầu quản lý trong tình hình mới; phân định tài sản công phục vụ công tác quản lý, cung cấp dịch vụ công, tài sản công phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, tài sản công phục vụ sản xuất, kinh doanh; đổi mới phương thức quản lý, sử dụng tài sản công phù hợp với từng loại tài sản theo hướng nắm chắc, hạch toán, thống kê đầy đủ tài sản công về giá trị và hiện vật, coi tài sản công là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, tái cơ cấu ngân sách nhà nước. Nhằm bảo đảm nguyên tắc tất cả các loại tài sản công đều được điều chỉnh bởi pháp luật, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật, tránh mâu thuẫn, chồng chéo với các luật chuyên ngành, tạo cơ sở để nắm được tổng thể nguồn lực từ tài sản công, Luật được xây dựng theo các nguyên tắc sau:

a) Quy định những nguyên tắc chung nhất trong quản lý, sử dụng tất cả các loại tài sản công để các luật điều chỉnh về tài sản công đều phải tuân thủ;

b) Quy định toàn diện chế độ quản lý, sử dụng đối với những loại tài sản đang được điều chỉnh tại Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước hiện hành và những loại tài sản đang được quy định chế độ quản lý, sử dụng tại các văn bản dưới luật (như: tài sản của các dự án sử dụng vốn nhà nước, tài sản được xác lập quyền sở hữu thuộc về Nhà nước);

c) Quy định chế độ khai thác và quản lý nguồn lực tài chính đối với các loại tài sản công khác (như: tài sản kết cấu hạ tầng, đất đai, tài nguyên).

Riêng đối với tài sản công thể hiện dưới hình thái tiền tệ thuộc ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước, quỹ ngoại tệ thực hiện quản lý theo quy định của pháp luật có liên quan, không thuộc phạm vi tài sản công quy định tại Luật này. Việc quy định như trên nhằm bảo đảm nguyên tắc tất cả các loại tài sản công đều được điều chỉnh bởi pháp luật, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật, tránh mâu thuẫn, chồng chéo với các luật chuyên ngành, tạo cơ sở để nắm được tổng thể nguồn lực từ tài sản công.

3. Tạo lập cơ sở pháp lý để quản lý chặt chẽ, sử dụng tiết kiệm tài sản công; ngăn chặn, đẩy lùi thất thoát, lãng phí, tham nhũng và những hành vi khác xâm phạm tài sản công; khai thác tài sản công hợp lý, hiệu quả gắn với việc huy động các nguồn lực của xã hội cùng Nhà nước đầu tư phát triển, khai thác tài sản công để tạo lập nguồn lực tài chính đóng góp có hiệu quả vào phát triển kinh tế - xã hội, tái cơ cấu ngân sách nhà nước; từng bước chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa công tác quản lý tài sản công, phát triển dịch vụ về tài sản công theo cơ chế thị trường trên cơ sở đảm bảo quyền sở hữu toàn dân về tài sản.

5. Bố cục của Luật quản lý, sử dụng tài sản công

Luật Quản lý, sử dụng tài sản công gồm 10 Chương với 134 Điều, cụ thể:

1. Chương I. Quy định chung: gồm 11 điều (từ Điều 1 đến Điều 11) quy định các nội dung về phạm vi điều chỉnh và những vấn đề chung trong quản lý, sử dụng tài sản công, bao gồm: Tài sản công và phân loại tài sản công; chính sách quản lý, sử dụng tài sản công; nguyên tắc quản lý, sử dụng tài sản công; khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công; công khai tài sản công và giám sát của cộng đồng đối với tài sản công; các hành vi bị cấm và xử lý vi phạm pháp luật về tài sản công.

2. Chương II. Nội dung quản lý nhà nước về tài sản công và nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước đối với tài sản công: gồm 08 điều (từ Điều 12 đến Điều 19) quy định về nội dung quản lý nhà nước đối với tài sản công; nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ, cơ quan trung ương, Kiểm toán nhà nước; nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp đối với tài sản công; thực hiện nhiệm vụ quản lý tài sản công.

3. Chương III. Quản lý, sử dụng tài sản công tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị: gồm 54 Điều (từ Điều 20 đến Điều 73) được chia thành 7 mục quy định về quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan, tổ chức, đơn vị; tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công; chế độ quản lý, sử dụng tài sản công tại từng loại hình cơ quan, tổ chức, đơn vị , quy định về: nguồn hình thành tài sản công; đầu tư xây dựng trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp; hạch toán, báo cáo, bảo dưỡng, sửa chữa tài sản; các hình thức xử lý tài sản (thu hồi, điều chuyển, bán, sử dụng tài sản công để thanh toán cho nhà đầu tư khi thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình theo hình thức hợp đồng xây dựng - chuyển giao, thanh lý, tiêu hủy); sử dụng tài sản công vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết.

4. Chương IV. Chế độ quản lý, sử dụng tài sản kết cấu hạ tầng: gồm 23 điều (từ Điều 74 đến Điều 96) được chia thành 5 mục quy định chung về quản lý, sử dụng tài sản kết cấu hạ tầng; hồ sơ, kế toán, báo cáo, bảo trì tài sản kết cấu hạ tầng; khai thác, xử lý tài sản kết cấu hạ tầng; quản lý, sử dụng tài sản kết cấu hạ tầng được đầu tư theo hình thức đối tác công - tư.

5. Chương V. Chế độ quản lý, sử dụng tài sản công tại doanh nghiệp: gồm 3 Điều (từ Điều 97 đến Điều 99) quy định việc quản lý, sử dụng tài sản công tại doanh nghiệp.

6. Chương VI. Chế độ quản lý, sử dụng tài sản của dự án sử dụng vốn nhà nước và tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân: gồm 13 Điều (từ Điều 100 đến Điều 112) chia thành 02 mục gồm:

a) Mục 1. Quản lý, sử dụng tài sản của các dự án sử dụng vốn nhà nước: quy định về các nội dung: hình thành tài sản của các dự án sử dụng vốn nhà nước; sử dụng, hạch toán, báo cáo tài sản; hình thức xử lý, thẩm quyền quyết định xử lý tài sản; quản lý, sử dụng tài sản được hình thành thông qua việc triển khai thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng vốn nhà nước.

b) Mục 2. Quản lý, xử lý tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân: quy định về các nội dung: thẩm quyền, thủ tục xác lập quyền sở hữu toàn dân về tài sản; bảo quản tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân; hình thức xử lý, thẩm quyền phê duyệt phương án xử lý, trình tự xử lý tài sản.

7. Chương VII. Chế độ quản lý, sử dụng, khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai, tài nguyên: gồm 12 Điều (từ Điều 113 đến Điều 124) chia làm 2 Mục quy định nguyên tắc chung trong quản lý, sử dụng, khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai, tài nguyên; hình thức, phương thức khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai, tài nguyên (với vị trí là một loại tài sản công quan trọng).

8. Chương VIII. Hệ thống thông tin về tài sản công và Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công: gồm 5 Điều (từ Điều 125 đến Điều 129) quy định về hệ thống thông tin về tài sản công; trách nhiệm xây dựng hệ thống thông tin về tài sản công; Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công; quản lý, khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công và sử dụng thông tin về tài sản công.

9. Chương IX. Dịch vụ về tài sản công: gồm 3 Điều (từ Điều 130 đến Điều 132) quy định nội dung dịch vụ về tài sản công; tổ chức, cá nhân được cung cấp dịch vụ về tài sản công; sử dụng dịch vụ về tài sản công.

10. Chương X. Điều khoản thi hành: gồm 2 Điều (Điều 133 và Điều 134) quy định về hiệu lực thi hành và quy định chuyển tiếp.