1. Quy định về nguyên tắc thanh lý tài sản của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài?

Việc thanh lý tài sản của tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài được quy định theo các nguyên tắc sau đây, theo Điều 4 của Thông tư 24/2017/TT-NHNN:

- Tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải xác định khả năng thanh toán các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác trước và trong quá trình thanh lý tài sản và giải thể. Điều này đảm bảo rằng họ có khả năng thanh toán các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác trước khi tiến hành thanh lý và giải thể.

- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, được gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước, chỉ chấp thuận việc giải thể khi tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài có khả năng thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác. Việc giải thể tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải tuân thủ các quy định của Thông tư này và các quy định của pháp luật liên quan.

- Trong quá trình giám sát thanh lý tài sản, nếu Ngân hàng Nhà nước phát hiện rằng tổ chức tín dụng không có khả năng thanh toán đầy đủ các khoản nợ, Ngân hàng Nhà nước sẽ ra quyết định chấm dứt quá trình thanh lý và thực hiện phương án phá sản tổ chức tín dụng theo quy định tại Mục 1e Chương VIII của Luật Các tổ chức tín dụng 2010 (đã được sửa đổi, bổ sung).

- Trong quá trình thanh lý tài sản, nếu chi nhánh ngân hàng nước ngoài không có khả năng thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác, ngân hàng mẹ sẽ có nghĩa vụ thực hiện cam kết theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 20 của Luật Các tổ chức tín dụng (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2010).

Vì vậy, quá trình thanh lý tài sản của tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thực hiện theo các nguyên tắc trên, bao gồm xác định khả năng thanh toán, sự chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước, và các biện pháp phá sản và cam kết từ ngân hàng mẹ. Các quy định này nhằm đảm bảo tính bền vững và ổn định của hệ thống tài chính ngân hàng và bảo vệ lợi ích của các bên liên quan

 

2. Ngôn ngữ trong hồ sơ thanh lý tài sản của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài?

Quy định về việc lập hồ sơ thanh lý tài sản của tổ chức tín dụng, đặc biệt là các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, được thể hiện thông qua ngôn ngữ nào? Điều này đã được quy định rõ ràng trong khoản 1 Điều 5 của Thông tư 24/2017/TT-NHNN về nguyên tắc lập hồ sơ.

- Theo quy định, hồ sơ thanh lý tài sản phải được lập bằng tiếng Việt. Điều này có nghĩa là các tài liệu, giấy tờ, hồ sơ liên quan đến quá trình thanh lý tài sản phải được viết bằng tiếng Việt hoặc đã được dịch sang tiếng Việt. Trường hợp hồ sơ được lập bằng tiếng nước ngoài, nó phải được hợp pháp hóa lãnh sự và dịch công chứng sang tiếng Việt trước khi nộp.

- Quy định này nhằm đảm bảo tính chính xác, minh bạch và hiệu quả trong việc xử lý hồ sơ thanh lý tài sản của tổ chức tín dụng. Việc lập hồ sơ bằng tiếng Việt giúp đảm bảo rằng các đại lý, các bên liên quan và cơ quan quản lý có thể hiểu rõ nội dung và thông tin trong hồ sơ một cách đầy đủ và chính xác nhất.

- Nếu hồ sơ được lập bằng tiếng nước ngoài, quy định yêu cầu hợp pháp hóa lãnh sự và dịch công chứng sang tiếng Việt. Điều này đảm bảo rằng hồ sơ được dịch đúng nghĩa và không gây hiểu lầm trong quá trình xử lý. Việc hợp pháp hóa lãnh sự đảm bảo rằng hồ sơ được thực hiện theo quy định của pháp luật và có giá trị pháp lý.

- Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp được miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật. Điều này có thể áp dụng cho những trường hợp cụ thể được quy định rõ trong luật pháp. Quy định này giúp linh hoạt trong việc xử lý hồ sơ, đồng thời đảm bảo tính công bằng và hiệu quả trong quá trình thanh lý tài sản của tổ chức tín dụng.

Tóm lại, quy định về ngôn ngữ lập hồ sơ thanh lý tài sản của tổ chức tín dụng, bao gồm cả chi nhánh ngân hàng nước ngoài, yêu cầu hồ sơ phải được lập bằng tiếng Việt. Trường hợp hồ sơ bằng tiếng nước ngoài, nó phải được hợp pháp hóa lãnh sự và dịch công chứng sang tiếng Việt, trừ khi được miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật.

 

3. Có được từ bỏ hoặc giảm bớt quyền đòi nợ khi bị thanh lý tài sản đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hay không?

Theo quy định tại khoản 2 Điều 6 của Thông tư 24/2017/TT-NHNN (được thay thế một số cụm từ bởi khoản 5 Điều 2 của Thông tư 11/2020/TT-NHNN), trong quá trình thu hồi Giấy phép và thanh lý tài sản của tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài, có các hành vi bị cấm.

Kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền quyết định giải thể tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài, hoặc từ ngày Thống đốc hoặc Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh có văn bản yêu cầu tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài thanh lý tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 8 của Thông tư này, tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài, cùng với người quản lý, người điều hành và người lao động của tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài, đều bị nghiêm cấm thực hiện các hoạt động và giao dịch liên quan đến tài sản và công nợ của tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài sau đây:

Từ bỏ hoặc giảm bớt quyền đòi nợ.

Vì vậy, theo quy định trên, tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được phép từ bỏ hoặc giảm bớt quyền đòi nợ khi bị thanh lý tài sản. Điều này nhằm đảm bảo rằng trong quá trình thanh lý, tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài vẫn giữ được quyền đòi nợ và có khả năng thu hồi các khoản nợ đó để đảm bảo quyền lợi của chính mình và các bên liên quan.

 

4. Các hành vi bị cấm trong quá trình thu hồi Giấy phép, thanh lý tài sản của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền quyết định thông qua việc giải thể tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoặc từ ngày Thống đốc hoặc Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh có văn bản yêu cầu tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thanh lý tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Thông tư 24/2017/TT-NHNN , nghiêm cấm tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, người quản lý, người điều hành, người lao động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện các hoạt động, giao dịch liên quan đến tài sản, công nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài sau đây:

- Cất giấu, tẩu tán tài sản: Tất cả các bên liên quan đến tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được phép che giấu hoặc phân tán tài sản thuộc sở hữu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Hành vi này ám chỉ việc ẩn giấu tài sản nhằm tránh việc thu hồi và thanh lý.

- Từ bỏ hoặc giảm bớt quyền đòi nợ: Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các bên liên quan không được từ bỏ hoặc giảm bớt quyền đòi nợ mà tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có đối với nợ của mình. Hành vi này nhằm ngăn chặn việc giảm thiểu khả năng thu hồi nợ.

- Chuyển các khoản nợ không có bảo đảm thành các khoản nợ có bảo đảm bằng tài sản của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài: Các bên liên quan không được chuyển đổi các khoản nợ mà tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không có bảo đảm thành các khoản nợ có bảo đảm bằng tài sản thuộc sở hữu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Hành vi này nhằm tránh việc trục lợi bằng việc đảm bảo tài sản của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

- Cầm cố, thế chấp, tặng cho và cho thuê tài sản: Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các bên liên quan không được cầm cố, thế chấp, tặng cho hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Hành vi này nhằm đảm bảo tính nguyên vẹn và khả năng thu hồi tài sản của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

- Ký kết thỏa thuận, hợp đồng mới trừ các thỏa thuận, hợp đồng nhằm thực hiện chấm dứt hoạt động: Các bên liên quan không được ký kết thỏa thuận hoặc hợp đồng mới, trừ khi đó là các thỏa thuận hoặc hợp đồng nhằm thực hiện việc chấm dứt hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Hành vi này nhằm ngăn chặn việc đưa ra các thỏa thuận mới có thể gây ảnh hưởng đến quá trình thu hồi và thanh lý.

- Chuyển tiền, tài sản ra nước ngoài: Các bên liên quan không được chuyển tiền, tài sản thuộc sở hữu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài ra nước ngoài. Hành vi này nhằm đảm bảo rằng tài sản của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không bị chuyển đi và góp phần bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan trong quá trình thu hồi và thanh lý.

Tổng quát lại, quy định này nhằm hạn chế các hành vi lạm dụng tài sản và công nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài trong quá trình thu hồi và thanh lý. Việc tuân thủ quy định này là cần thiết để đảm bảo tính minh bạch, công bằng và hiệu quả trong quá trình xử lý tài sản và công nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích của các bên liên quan.

Xem thêm >>> Hướng dẫn thủ tục bán thanh lý tài sản và cách thức tiêu hủy tài sản cố định của công ty?

Nếu quý khách hàng có bất kỳ thắc mắc hoặc vấn đề nào liên quan đến bài viết hoặc pháp luật, chúng tôi xin trân trọng đề nghị quý khách liên hệ với tổng đài tư vấn pháp luật của chúng tôi qua số điện thoại 1900.6162 hoặc gửi email đến địa chỉ lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được sự hỗ trợ và giải đáp thắc mắc một cách tốt nhất. Chúng tôi hiểu rằng quý khách hàng có thể gặp phải các tình huống phức tạp và cần sự tư vấn chuyên môn từ các chuyên gia pháp luật. Với đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm và am hiểu sâu về lĩnh vực này, chúng tôi cam kết sẽ cung cấp cho quý khách hàng sự hỗ trợ chất lượng và tư vấn pháp lý đáng tin cậy.