1. Nguồn chứng cứ

Nguồn chứng cứ là những sự vật chứa đựng chứng cứ, tức chứa đựng các thông tin, tư liệu tồn tại trong thực tế khách quan, liên quan đến vụ án và được thu thập theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Điều 87 BLTTHS 2015 quy định nguồn chứng cứ như sau:

Điều 87. Nguồn chứng cứ

1. Chứng cứ được thu thập, xác định từ các nguồn:

a) Vật chứng;

b) Lời khai, lời trình bày;

c) Dữ liệu điện tử;

d) Kết luận giám định, định giá tài sản;

đ) Biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án;

e) Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác;

g) Các tài liệu, đồ vật khác.

2. Những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự

2. Dữ liệu điện tử

BLTTHS đã ghi nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ tại điểm c khoản 1 Điều 87. Dữ liệu điện tử là ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử (Khoản 1 Điều 99 BLTTHS). Về bản chất, dữ liệu điện tử là ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử, có thể phục hồi, phân tích, tìm được dữ liệu, kể cả trong trường hợp dữ liệu đó đã bị xóa, bị ghi đè, dưới dạng ẩn, đã mã hóa và làm cho có thể đọc được, nhìn thấy được, ghi lại, sử dụng làm chứng cứ.

Chứng cứ trong vụ án hình sự là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định mà cơ quan tiến hành tố tụng dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án. Việc công nhận dữ liệu điện tử có giá trị làm chứng cứ trong hoạt động tố tụng nhưng chúng không phải hoàn toàn đáng tin cậy. Để xem xét dữ liệu điện tử có giá trị làm chứng cứ hay không, cơ quan tiến hành tố tụng sẽ phải xem xét rất nhiều các yếu tố khác nhau như: Cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi dữ liệu điện tử; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác (Khoản 3 Điều 99 BLTTHS). Bên cạnh đó, dữ liệu điện tử cũng như các loại nguồn chứng cứ khác, giá trị của chứng cứ ở mức độ nào là do cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá, quyết định trong từng trường hợp cụ thể.

Thực tiễn hiện nay, các đối tượng đã triệt để lợi dụng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ để thực hiện và che dấu tội phạm, nên để giải quyết đúng đắn các vụ án hình sự, việc thu thập các chứng cứ điện tử là rất quan trọng, thế nhưng dữ liệu điện tử chưa được BLTTHS 2003 ghi nhận với tư cách là nguồn chứng cứ. Ngày nay, BLTTHS 2015 ghi nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ là cần thiết, đáp ứng yêu cầu công tác đấu tranh phòng chống tội phạm

3. Quy định của BLTTHS 2015 về thu thập chứng cứ là dự liệu điện tử

Việc thu thập, niêm phong, bảo quản vật chứng là các phương tiện lưu trữ dữ liệu điện tử, chặn thu, sao lưu dữ liệu, hoạt động giám định, phục hồi, tìm kiếm dữ liệu điện tử, việc lập biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án và bảo toàn nguyên vẹn dữ liệu điện tử được Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định tại:

- Điều 107 quy định thủ tục tố tụng về thu thập, niêm phong, bảo quản như đối với vật chứng các phương tiện lưu trữ dữ liệu điện tử, về chặn thu, sao lưu dữ liệu, về hoạt động giám định, phục hồi, tìm kiếm dữ liệu điện tử, về kết quả phục hồi, tìm kiếm, giám định phải được chuyển sang dạng có thể đọc được, nghe được hoặc nhìn được, về việc lập biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án bảo toàn nguyên vẹn dữ liệu điện tử và thủ tục xuất trình chứng cứ là dữ liệu điện tử phải kèm theo phương tiện lưu trữ dữ liệu hoặc bản sao dữ liệu điện tử.

- Điều 192 quy định căn cứ khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện, đồ vật, thư tín, điện tín, dữ liệu điện tử.

- Điều 196 quy định thủ tục tố tụng khi thu giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử, kể cả trường hợp không thể thu giữ được thì phải sao lưu vào phương tiện lưu trữ và thu giữ như đối với vật chứng.

- Điều 199 quy định trách nhiệm bảo quản nguyên vẹn các phương tiện, dữ liệu điện tử bị thu giữ, tạm giữ hoặc bị niêm phong.

Như vậy, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định cụ thể về các hoạt động tố tụng để thu thập vật chứng là các phương tiện lưu trữ dữ liệu điện tử và chặn bắt dữ liệu trên đường truyền, thu dữ liệu điện tử lưu trong các thiết bị lưu trữ trên mạng như:

- Tìm và thu giữ các thiết bị lưu trữ dữ liệu điện tử, như các loại máy chủ mạng (firewall, application server, webserver, mail server, Proxy server, máy chủ dịch vụ lưu trữ virus điều khiển...), máy tính cá nhân, máy tính bảng, USB, thẻ nhớ, ổ cứng di động, điện thoại di động, camera an ninh..., là những thiết bị thường lưu trữ dấu vết điện tử về quá trình truy cập, tấn công qua mạng, tải và lưu trữ dữ liệu... để thực hiện các hành vi gây án.

- Chặn bắt dữ liệu trên đường truyền, tìm và thu dữ liệu là dấu vết truy cập, tấn công mạng, dữ liệu phát tán qua mạng, lưu trong các loại máy chủ của ISP và các thiết bị kỹ thuật số như logfile, dấu vết tải dữ liệu, xóa dữ liệu, cài mã độc, dữ liệu liên quan đến hoạt động phạm tội...

- Sử dụng các phần mềm, thiết bị phục hồi dữ liệu điện tử chuyên dùng như ENCASE, FTK, X-Ways, UFED, XRY, HELIX... để sao lưu, thu thập, phục hồi, phân tích và tìm kiếm dữ liệu điện tử lưu trữ trong các thiết bị như máy tính cá nhân, máy tính bảng, USB, thẻ nhớ, ổ cứng di động, điện thoại di động, kể cả khi dữ liệu đã bị mã hóa, bị xóa, bị ghi đè.

- Sử dụng các thiết bị và phần mềm chuyên dùng để phục hồi dữ liệu lưu trong các thiết bị kỹ thuật số, ổ cứng, chip điện tử bị hỏng vật lý.

4. Các cơ quan có thẩm quyền phải làm gì khi thu thập dữ liệu điện tử làm chứng cứ?

Để thu thập dữ liệu điện tử làm chứng cứ, các hoạt động của cơ quan pháp luật như thu thập, phục hồi, phân tích, tìm kiếm dữ liệu làm chứng cứ phải được thực hiện đúng trình tự, thủ tục về khám xét, lập biên bản, niêm phong, thu giữ, bảo quản vật chứng như ổ cứng máy tính, điện thoại thông minh, USB, thẻ nhớ, đĩa quang, video camera, máy ảnh, email..., về chặn thu, sao lưu dữ liệu, về giám định, phục hồi, tìm kiếm dữ liệu điện tử. Khi bàn giao tang vật cho chuyên gia phục hồi dữ liệu để sao chép dữ liệu phải làm thủ tục mở niêm phong và niêm phong lại theo quy định của pháp luật. Việc sao chép dữ liệu phải được thực hiện bằng thiết bị chống ghi (Read only), bảo đảm tính nguyên trạng và toàn vẹn của dữ liệu lưu trong tang vật và có sự làm chứng của những người đã ký vào biên bản niêm phong. Việc phục hồi, phân tích, tìm kiếm dữ liệu chỉ thực hiện trên bản sao (dữ liệu trong tang vật không bị tác động và được bảo quản toàn vẹn theo quy định của pháp luật). Đồng thời, kết quả phục hồi, tìm kiếm, giám định phải được chuyển sang dạng có thể đọc được, nghe được hoặc nhìn được, lập biên bản về nội dung dữ liệu điện tử, kèm theo lời khai và xác nhận của người phạm tội, người làm chứng theo đúng quy định của pháp luật.

5. Việc khám xét, thu giữ vật chứng lưu trữ dữ liệu điện tử phải đảm bảo yếu tố gì?

Việc khám xét, thu giữ vật chứng lưu trữ dữ liệu điện tử phải bảo đảm các yếu tố:

- Việc khám xét nhà ở, nơi làm việc của đối tượng, phải tuân thủ các quy định về tố tụng hình sự và tuân thủ quy trình kỹ thuật tìm, thu giữ các thiết bị kỹ thuật số, chụp ảnh, vẽ sơ đồ, lập biên bản thu giữ, niêm phong, bảo quản máy tính, các thiết bị nhớ như ổ cứng, USB, đĩa CD, đĩa mềm, MP3, giấy tờ ghi chép có liên quan...

- Phải thu giữ kịp thời, đầy đủ, mô tả đúng thực trạng và niêm phong ngay sau khi thu giữ. Trường hợp không thể thu giữ phương tiện lưu trữ dữ liệu điện tử thì sao lưu dữ liệu điện tử đó vào phương tiện điện tử và bảo quản như đối với vật chứng. Khi thu thập, chặn thu, sao lưu dữ liệu điện tử từ phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc trên đường truyền, phải lập biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án. Phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử được bảo quản như vật chứng theo quy định của Bộ luật này.

- Khi nhận được quyết định trưng cầu giám định, cá nhân, tổ chức có trách nhiệm thực hiện giám định, phục hồi, tìm kiếm dữ liệu điện tử theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Việc phục hồi, tìm kiếm, giám định dữ liệu điện tử chỉ được thực hiện trên bản sao; kết quả phục hồi, tìm kiếm, giám đỊnh phải được chuyển sang dạng có thể đọc được, nghe được hoặc nhìn được. Khi xuất trình chứng cứ là dữ liệu điện tử phải kèm theo phương tiện lưu trữ dữ liệu hoặc bản sao dữ liệu điện tử.

- Dữ liệu và chứng cứ trực tiếp, quan trọng phần lớn được lưu trong máy tính, email, điện thoại di động và các thiết bị lưu trữ của đối tượng và trong hầu hết các vụ xâm phạm an ninh mạng, chỉ có thể tiếp cận dữ liệu này khi phá án. Do vậy, khi chưa có đủ căn cứ để khởi tố bị can, cần cân nhắc một số chiến thuật như khám xét khẩn cấp, để thu máy tính, các thiết bị kỹ thuật số, email... để đối tượng không có đủ thời gian hủy chứng cứ.

- Việc khám xét cần lưu ý đến các địa điểm có máy tính và thiết bị lưu trữ của đối tượng ngoài nơi ở có hộ khẩu, nơi ở khác, nơi làm việc.

- Việc tạm giữ đồ vật, tài liệu khi khám xét cần lưu ý thu hết thiết bị, vật chứng liên quan, niêm phong, bảo quản đúng quy định, đúng kỹ thuật và lập biên bản đầy đủ để có căn cứ chuyển cho cơ quan giám định, phục hồi dữ liệu điện tử.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)