1. Tiểu sử về Irving Fisher
Irving Fisher sinh ra ở Saugerties, New York. Cha ông là một giáo viên và là một mục sư của Giáo hội, người đã nuôi dạy con trai mình tin rằng phải là một thành viên có ích cho xã hội. Mặc dù được lớn lên trong một gia đình tôn giáo, nhưng sau đó ông trở thành một người vô thần. Khi còn nhỏ, ông có khả năng toán học đáng nể và khả năng phát minh sáng tạo. Một tuần sau khi anh được nhận vào Đại học Yale, cha anh qua đời ở tuổi 53. Irving Fisher sau đó đã hỗ trợ mẹ, anh trai và bản thân anh, chủ yếu bằng cách dạy kèm. Ông tốt nghiệp đầu tiên trong lớp với bằng cử nhân vào năm 1888, cũng đã được bầu làm thành viên của hội Skull and Bones.
Năm 1891, Irving Fisher nhận bằng Tiến sĩ đầu tiên về kinh tế học do Yale cấp. Cố vấn giảng dạy của ông là nhà vật lý lý thuyết Willard Gibbs và nhà xã hội học William Graham Sumner. Khi còn là một sinh viên, Irving Fisher đã thể hiện tài năng và thiên hướng đặc biệt đối với toán học, nhưng ông nhận thấy rằng kinh tế học mang lại phạm vi lớn hơn cho tham vọng của ông và các mối quan tâm xã hội. Luận án của ông được Yale công bố năm 1892 với tên gọi Những điều tra toán học trong Lý thuyết Giá trị và Giá cả , là một sự phát triển chặt chẽ của lý thuyết về trạng thái cân bằng tổng quát. Khi bắt đầu viết luận án, Irving Fisher đã không biết rằng Léon Walras và các đệ tử ở lục địa châu Âu của ông cũng đã đề cập đế vấn đề tương tự. Tuy nhiên, công việc của Irving Fisher là một đóng góp rất quan trọng và ngay lập tức được các bậc thầy châu Âu như Francis Edgeworth công nhận và ca ngợi.
2. Sau khi tốt nghiệp
Sau khi tốt nghiệp Yale, Irving Fisher học ở Berlin và Paris. Từ năm 1890 trở đi, ông ở lại Yale, đầu tiên là trợ giảng, sau năm 1898 là giáo sư kinh tế chính trị và sau năm 1935 là giáo sư danh dự. Ông đã biên tập Tạp chí Yale từ năm 1896 đến năm 1910 và hoạt động tích cực trong nhiều hội, viện và tổ chức phúc lợi uyên bác. Ông là chủ tịch của Hiệp hội Kinh tế Mỹ trong năm 1918. Các American Hội Toán học chọn ông là Gibbs Giảng viên của mình cho năm 1929. Một lãnh đạo đề xuất ban đầu của toán kinh tế, vào năm 1930 ông với Ragnar Frisch và Charles F. Roos đã thành lập các Hội Kinh tế lượng, mà ông là người đứng đầu.
Irving Fisher là một nhà văn giỏi, sản xuất báo chí cũng như sách và bài báo kỹ thuật, và giải quyết các vấn đề xã hội khác nhau xung quanh Thế chiến thứ nhất, những năm 1920 thịnh vượng và những năm 1930 suy sụp. Ông đã thực hiện một số phát minh thiết thực, trong đó đáng chú ý nhất là "hệ thống nộp đơn có thể nhìn thấy chỉ mục" mà ông đã được cấp bằng sáng chế vào năm 1913 và bán cho Kardex Rand (sau này là Remington Rand ) vào năm 1925. Điều này và các khoản đầu tư cổ phiếu tiếp theo của ông đã khiến ông một người đàn ông giàu có cho đến khi tài chính cá nhân của anh ta bị ảnh hưởng nặng nề bởi Cuộc khủng hoảng năm 1929.
Irving Fisher cũng là một nhà vận động xã hội và sức khỏe tích cực, cũng như một người ủng hộ việc ăn chay, cấm ăn chay và thuyết ưu sinh. Năm 1893, ông kết hôn với Margaret Hazard, cháu gái của nhà công nghiệp Rhode Island và nhà cải cách xã hội Rowland G. Hazard. Ông qua đời vì bệnh ung thư ruột kết không thể chữa khỏi tại Thành phố New York vào năm 1947, ở tuổi 80.
3. Irving Fisher và phương trình giao dịch
Năm 1911, giáo sư đại học Yale, Irving Fisher (1867-1947) nắm quyền lãnh đạo từ John Stuart Mill và rút ra một khuôn khổ toán học để giải thích minh bạch kết luận lý thuyết số lượng. Irving Fisher viết MV + M’V’ = PT, trong đó M là lượng tiền dự trữ đang lưu thông, V là tốc độ chu chuyển hàng năm của tiền tệ, hay mức độ ở đó tiền tệ sang tay, M’ là khối lượng tiền ký quỹ theo yêu cầu do ngân hàng nắm, V’ là tốc độ ký quỹ theo yêu cầu lưu thông hàng năm, p là tổng mức giá cả, còn T là chỉ số khối lượng giao dịch cụ thể. Vì định nghĩa hiện đại của chúng ta bao gồm tiền ký quỹ theo yêu cầu ngân hàng, phương trình trên viết đơn giản hơn MV = PT, về sau này được xem là phương trình giao dịch Fisher.
Biểu thức toán học của Irving Fisher trước đây đã được Mill phát biểu bằng lời như sau:
“Nếu chúng ta thừa nhận số lượng hàng hóa kinh doanh, và số lần hàng hóa ấy bán lại, phải là những số lượng cố định, thì giá trị tiền tệ sẽ tùy thuộc vào số lượng của nó, cùng với số lượng bình quân số lần mà mỗi hàng hóa sang tay trong tiến trình.. Do đó, số lượng hàng hóa và giao dịch vẫn như nhau, giá trị tiền tệ nghịch đảo khi số lượng tiền tệ nhân với những gì gọi là lưu thông mau lẹ [tốc độ]. Và số lượng tiền tệ trong lưu thông bằng với giá trị tiền tệ của tất cả hàng hóa bán ra, chia cho số thể hiện lưu thông mau lẹ”. (Principles of Political Economy, trang 494).
Fisher thừa nhận phương trình giao dịch của ông là đồng nhất kế toán vì thế là sự thật quá hiển nhiên. Nhưng xét từ quan điểm lý thuyết kinh tế, phương trình này không phải là vô ích. Thực ra, Irving Fisher sử dụng phương trình để khẳng định thêm một lần nữa tính tỉ lệ giữa gia tăng ở M và gia tăng ở p. Phương trình giao dịch, với một số giả định, sau này trở thành một biểu thức toán học của lý thuyết số lượng. Giả định của Irving Fisher cho rằng tốc độ (V) và khối lượng mậu dịch độc lập với lượng tiền cung ứng và mức giá là một biến số âm hơn là biến số dương. Do đó ông có thể và đã khẳng định tính tỉ lệ chặt chẽ giữa M và p như một hiện tượng dài hạn. Thuyết minh của ông về yếu tố quyết định V và T hoàn hảo đến mức không thể tin được, về bản chất, V và T được cho là do các yếu tố thực tế quyết định (thói quen và tập quán, công nghệ và sắp xếp định chế), sao cho sự thay đổi trong lượng tiền dự trữ không gây ra thay đổi của bất kỳ yếu tố quyết định thực tế nào của V và T.
4. Liên kết thiếu: Hiệu ứng số dư thực tế
Quan trọng hơn thể hiện toán học lý thuyết số lượng chặt chẽ là việc Irving Fisher nhận dạng sự liên kết giữa gia tăng số lượng tiền tệ và sự gia tăng giá cả tiếp theo sau. Sự liên kết thiếu này (đảm bảo sự ổn định cân bằng tiền tệ) là hiệu ứng số dư thực tế, giải thích như sau. Sự gia tăng lượng tiền cá nhân nắm giữ làm xáo trộn mối quan hệ tối ưu giữa số dư tiền mặt và chi tiêu của cá nhân. Theo thuật ngữ của Walras, nhiều tiền hơn ở mức giá hiện hữu tạo ra cung vượt cầu của số dư tiền cá nhân đang nắm. Vì thế cá nhân tìm cách giảm số dư tiền thừa này bằng cách tăng chi tiêu. Ngoài ra, nếu đầu ra vẫn giữ nguyên không đổi (như Irving Fisher giả định), thì nhu cầu tiền gia tăng sẽ đẩy giá cả lên cao cho đến khi chúng đã tăng ở cùng tỉ lệ như sự gia tăng tiền tệ. Bằng cách này đạt đến sự cân bằng mới và giữ vững vì số dư tiền của cá nhân trở lại mức tối ưu.
Quan điểm này không có trong những phát biểu hệ thống về lý thuyết số lượng trước đây, mặc dù sau khi khám phá, Irving Fisher không khai thác minh sự gia tăng tiền sẽ gián tiếp tạo ra đầu ra gia tăng thông qua lãi suất giảm (mặc dù Wicksell đã đi xa trong việc bổ khuyết khoảng trống này, chúng ta sẽ chứng kiến). Thay vào đó, Irving Fisher chuyển sang mối tương quan giữa lạm phát, lãi suất, dự đoán và nắm giữ số dư tiền mặt thực tế.
5. Lạm phát và “hiệu ứng”
Trong những tác phẩm có ảnh hưởng về sau này chẳng hạn như The Purchasing Power of Money and The Theory of Interest, Irving Fisher nghiên cứu sự phân nhánh lạm phát thực tế và dự đoán cùng sự tương tác giữa chúng với lãi suất danh nghĩa và nhu cầu số dư thực tế. Trước tiên nên xét nhu cầu số dư thực tế diễn đạt như sau:
md = f(y, i)
Trong đó md nhu cầu số dư thực tế là hàm số của y, thu nhập thực tế và i, lãi suất danh nghĩa. Nhu cầu tiền tệ là hàm số nghịch của tốc độ. Irving Fisher cũng hiểu dạng hàm số nhu cầu tiền tệ này nhưng chỉ hoàn thiện trong tác phẩm của A. c. Pigou và Milton Friedman, hai tác giả sẽ đề cập đến trong chương này. Tuy nhiên, Fisher không khám phá tiến trình quan trọng quyết định lãi suất danh nghĩa, vốn là phí tổn cơ hội của việc giữ tiền.
Với sáng suốt thực tế Irving Fisher nhận thấy lãi suất danh nghĩa là sản phẩm của hai yếu tố: (1) lãi suất thực tế phản ánh tác động nền tảng cơ bản của việc mượn và vay (quỹ tiết kiệm và sức sản xuất theo phái cổ Điển) trong nền kinh tế, và (2) tỉ lệ lạm phát dự đoán ở một thời điểm nào đó. Trong một số loại “cân bằng toàn cầu” - nghĩa là tỉ lệ lạm phát không đổi - lãi suất thực tế bằng lãi suất dự đoán. Nói chung, với một vài giản dị hóa, khái niệm của Irving Fisher diễn đạt như sau:
i = r + p*
Trong đó i là hối suất danh nghĩa, r lãi suất thực tế, p* là lãi suất dự đoán. Đương nhiên, khi lãi suất dự đoán bằng với tỉ lệ lạm phát thực tế, thì lãi suất danh nghĩa sẽ bằng lãi suất thực tế.
Tính logic trong phương trình của Irving Fisher rất rõ. Hối suất danh nghĩa do người cho vay hình thành khi tổng lãi suất thực tế cộng với bất kỳ lạm phát nào được dự đoán sẽ cao hơn diễn tiến trong giai đoạn cho vay. Nếu tỉ lệ lạm phát dự đoán là 5% mỗi năm và lãi suất thực tế là 4%, thì người cho vay nói chung không sẵn sàng cho vay ngân quỹ ở mức thấp hơn 9%. [Nếu sau đó tỉ lệ lạm phát thành ra 10%, thì người đi vay thu được ngân quỹ ở một lãi suất thực tế âm còn người cho vay sẽ điều chỉnh trong các giai đoạn tiếp theo sau. Vì thế dự đoán lạm phát ảnh hưởng đến lãi suất danh nghĩa. Ngụ ý trong “hiệu ứng Irving Fisher” sẽ được xét chi tiết hơn dưới đây, nhưng điều quan trọng cần lưu ý là Irving Fisher phát hiện một cơ cấu qua đó lạm phát có thể tự tồn tại. Tỉ lệ lạm phát tiền tệ càng cao sẽ dẫn đến ban đầu giảm lãi suất danh nghĩa (thông qua sự gia tăng lượng cung ứng ngân quỹ cho vay), nhưng sau cùng dẫn đến giá cả cao hơn, mặc dù dự đoán lạm phát, tăng đến lãi suất danh nghĩa và lạm phát cao hơn. Nguyên tắc này, lượng tiền dự trữ của các nhà tiền tệ hiện đại là một trong những khám phá quan trọng của Irving Fisher.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)