1. Thế nào là mua nhà trả góp?

Mua nhà trả góp là một hình thức mua bất động sản mà người mua không trả toàn bộ giá trị của tài sản một lần mà thay vào đó họ trả tiền mua nhà dần dần trong một khoảng thời gian thông qua các kỳ trả góp. Theo luật Việt Nam ngôi nhà trả góp có thể được thực hiện theo các hình thức:

- Hợp đồng mua bán nhà trả góp: hình thức này được tiền bằng việc ký kết hợp đồng mua bán giữa người mua và người bán, trong đó người mua cam kết trả tiền mua nhà dần dần theo các kỳ góp đã thỏa thuận, hợp đồng này được lập và công chứng để có giá trị pháp lý

- Vay vốn mua nhà: người mua có thể xin vay vốn từ ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng khác để mua nhà, trong trường hợp này ngân hàng sẽ cấp cho người mua một khoản vay để mua nhà và người mua sẽ trả lại khoản vay này dưới dạng các kỳ trả góp theo thoả thuận trong hợp đồng vay

Trong quá trình ngôi nhà trả góp người mua sẽ phải đáp ứng các điều kiện và thỏa thuận được quy định trong hợp đồng mua bán hoặc hợp đồng vay bao gồm:

  • Kỳ hạn trả góp: Quy định thời gian và số lần trả góp theo đúng thỏa thuận
  • Lãi suất và phí: quy định về lãi suất và phí liên quan đến việc trả góp
  • Quyền sở hữu: xác định quyền sở hữu tài sản trong quá trình trả góp và khi đã hoàn thành việc trả góp
  • Các điều kiện thanh toán, xác định cách thức và phương thức thanh toán bao gồm số tiền trả trước và các khoản trả góp sau này 

Việc mua nhà trả góp cần tuân thủ các quy định và thỏa thuận được quy định trong hợp đồng và đảm bảo nghĩa vụ thanh toán đúng hạn. Nếu người mua vi phạm các điều kiện trong hợp đồng, người bán hoặc ngân hàng có thể áp dụng các biện pháp pháp lý để đòi tiền nợ và thu hồi tài sản. Vì mua nhà trả góp là một giao dịch lớn và có tính chất pháp lý phức tạp về tham định thời gian và số lần trả góp theo đúng thỏa thuận lãi suất và phí quy định về lãi suất và phí liên quan đến việc trả góp quyền sở hữu xác định quyền sở hữu tài sản trong quá trình trả góp.

 

2. Quy định của pháp luật về tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Căn cứ Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng bao gồm: tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân trừ trường hợp hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được trong thời kì hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng, tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất được dùng để đảm bảo nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản của vợ chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Theo đó tài sản chung của vợ chồng được hiểu là tài sản mà vợ chồng cùng chung sở hữu trong quá trình hôn nhân được quy định bởi Luật hôn nhân và gia đình 2014. Cụ thể, tài sản chung của vợ chồng bao gồm:

  • Tài sản chung được xác định theo quy định của luật hôn nhân và gia đình bao gồm tài sản thu được sau khi kết hôn: bất kỳ tài sản nào mà vợ chồng mua sau khi kết hôn và không thuộc di sản riêng của một bên sẽ được coi là tài sản chung
  • Thu nhập từ công việc và kinh doanh chung: những thu nhập mà vợ chồng thu được từ công việc làm thuê hoặc kinh doanh chung trong quá trình hôn nhân được coi là tài sản chung. Di sản riêng có thể trở thành tài sản chung, các di sản riêng của mỗi bên trước hoặc sau khi kết hôn không được coi là tài sản chung. Tuy nhiên trong một số trường hợp nếu tài sản di sản riêng này được sử dụng chung hoặc hợp nhất với tài sản chung nó có thể trở thành tài sản chung của vợ chồng
  • Tài sản chung được xác định qua thỏa thuận hôn nhân: vợ chồng có thể thỏa thuận mở rộng hoặc hạn chế phạm vi của tài sản chung trong hợp đồng kết hôn. Những thỏa thuận này sẽ được chỉ rõ tài sản nào được xem là tài sản chung và tài sản nào được coi là di sản riêng của từng bên

Tài sản chung của vợ chồng được quy định để bảo vệ quyền và lợi ích của cả hai bên trong quá trình hôn nhân và phân chia tài sản khi xảy ra ly hôn hoặc chấm dứt quan hệ hôn nhân khác. Quy  định về tài sản chung và phân chia tài sản cụ thể của thể khác nhau theo quy định.

Tài sản riêng của vợ chồng ồn tài sản và mỗi người có được trước khi kết hôn, tài sản thừa kế riêng được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản được chia riêng cho vợ chồng theo quy định của luật hôn nhân và gia đình 2014, tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ chồng và tài sản khác mà theo quy định pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng, tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng.

 

3. Mua nhà trả góp trước khi kết hôn thì được coi là tài sản chung hay tài sản riêng?

Theo quy định tại Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 nhà mua trả góp trước khi đăng ký kết hôn nhưng trả trong thời kỳ hôn nhân được thanh toán bằng tiền lương hoặc các thu nhập khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì phần nhà ở được trả góp là tài sản chung của vợ chồng. Đối với người mua nhà trả góp trước khi đăng ký kết hôn với mục đích làm tài sản riêng và đứng tên một mình thì khi bán vẫn phải có sự đồng ý của người vợ, chồng. Đồng thời khi ly hôn vẫn phải chia nếu tiền trả góp là tiền lương, thu nhập khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ khi thanh toán bằng tiền được tặng cho thừa kế riêng. Như vậy theo các phân tích ở trên việc xác định căn nhà trả góp trước thời kỳ hôn nhân là tài sản chung hay riêng thì cần phải xác định được thời điểm hoàn tất việc trả góp cho căn nhà đó. Nếu việc  trả góp được hoàn tất trước khi kết hôn thì căn nhà đó sẽ là tài sản riêng của vợ hoặc chồng và vợ hoặc chồng cần có giấy tờ chứng minh kèm theo về thời điểm hoàn thành việc trả góp cho ngôi nhà . Trong trường hợp việc trả góp kéo dài cho đến khi đã kết hôn và các khoản đóng góp đó được thanh toán bằng tiền lương hoặc thu nhập khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì căn nhà đó được xem một tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của vợ và chồng.

Như vậy tài sản mua trả góp trước khi kết hôn được coi là tài sản riêng của bên mua trả góp. Tuy nhiên nếu trong quá trình hôn nhân tài sản này được sử dụng chung hoặc hợp nhất với tài sản chung khác nó có thể trở thành tài sản chung của vợ chồng. Điều này có nghĩa là nếu một bên mua một ngôi nhà trả góp trước khi kết hôn và chỉ có tên người đó trong hợp đồng mua bán ngôi nhà đó sẽ được xem là tài sản riêng của bên mua. Tuy nhiên nếu trong quá trình hôn nhân cả hai bên tham gia vào việc trả góp và sử dụng ngôi nhà chung tài sản này có thể được xem là tài sản chung và phân chia theo quy định của pháp luật khi xảy ra ly hôn.

Để tìm hiểu thêm về vấn đề trên bạn đọc có thể tham khảo bài viết Đất được thừa kế trong thời kỳ hôn nhân có tính là tài sản chung không của luật Minh Khuê

Trên đây là bài viết mua nhà trả góp trước thời kỳ hôn nhân được coi là tài sản chung hay tài sản riêng luật Minh Khuê xin gửi tới bạn đọc. Mong rằng bài viết trên sẽ hữu ích dành cho bạn. Quý khách hàng có thắc mắc nào xin vui lòng liên hệ tổng đài 19006162 để được tư vấn và giải đáp trực tiếp hoặc gửi yêu cầu về địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Cảm ơn bạn đã quan tâm theo dõi