1. Khái quát lịch sử của tư tưởng pháp quyền

Trên thế giới, tư tưởng pháp quyền hình thành từ thời kỳ cổ đại. Yêu cầu về đảm bảo pháp quyền được đưa ra để phản ứng với sự lạm dụng quyền lực của chính quyền và chống lại sự tùy tiện của người cai trị với yêu cầu công quyền phải bị giới hạn bởi luật pháp. Tư tưởng pháp quyền tiếp tục được bồi đắp và phát triển qua nhiều giai đoạn. Lý thuyết pháp quyền được hình thành nên từ những ý tưởng đó.

Ở thời kỳ cổ đại, tư tưởng pháp quyền được phản ánh gắn với tên tuổi của một số nhà triết học Hy Lạp cổ đại nổi tiếng như Solon (638-559 trước Công nguyên, viết tắt TCN), Pythagoras (580-500 TCN), Heraclitus (530-470 TCN), Democritus (460-370 TCN), Socrates (469-99 TCN), Plato (427-347 TCN), Aristotle (384-322 TCN). Solon đã cho rằng, “chỉ có pháp luật mới thiết lập được trật tự và tạo nên sự thống nhất” . Theo Pythagoras, pháp luật phải được đặt cao hơn các phong tục, tập quán truyền thống . Heraclitus cho rằng: “Muốn có tự do và bình đẳng thì nhân dân phải đấu tranh để bảo vệ pháp luật như bảo vệ chốn nương thân của bản thân mình” . Democritus khi luận bàn về sự ra đời của Nhà nước và pháp luật đã cho rằng: “Sự tự do của công dân chính là sự tuân thủ pháp luật” . Trong nhận thức của Socrates, dân chủ không thể tồn tại nếu thiếu pháp luật hay pháp luật bất lực. Giá trị cao nhất là công lý, nghĩa là con người ta sống tuân thủ pháp luật của Nhà nước . Khi nói về vai trò của pháp luật, Plato đã nhận xét: “Ta nhìn thấy sự sụp đổ mau chóng của Nhà nước, ở nơi nào mà pháp luật không có hiệu lực và nằm dưới quyền lực của một ai đó. Còn ở đâu mà luật pháp đứng trên nhà cầm quyền, còn họ chỉ là nô lệ của luật pháp thì ở đó ta nhìn thấy sự cứu thoát của Nhà nước” .

Trong quan niệm của Aristotle không phải con người có quyền tối thượng mà pháp luật mới là tối thượng. Theo Aristotle, để duy trì chính quyền thì “điều cần giữ gìn triệt để hơn là tinh thần thượng tôn pháp luật” . Tư tưởng của Aristotle đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Theo đó, “không có nguyên tắc nào cũng như luật lệ nào đặt việc tranh quyền đoạt lợi làm mục tiêu lại có thể được xem là hữu ích hay chính đáng, dù đó là cá nhân hay quốc gia” .

Ở thời kỳ Trung cổ, tư tưởng pháp quyền dường như bị chèn ép bởi tư tưởng thần quyền và các giáo lý tôn giáo. Lý do của hiện tượng này là thời kỳ trung cổ mang dấu ấn sâu sắc của chế độ chuyên chế vương quyền và thần quyền, của bạo lực nhà nước và sự tôn sùng tôn giáo

Đến thời kỳ Phục hưng, phong trào chống lại tư tưởng chuyên chế và thần quyền trung cổ đã xuất hiện ở châu Âu. Ở giai đoạn đó, người ta đòi hỏi phải tăng cường quyền lực nhà nước. Theo Nicollo Machiavelli (1469-1527), nhà chính trị bao giờ cũng phải ưu tiên sử dụng sức mạnh bạo lực. Vì vậy, Nhà nước phải có các công cụ bạo lực mạnh như quân đội, luật pháp để bảo vệ lợi ích quốc gia. Ủng hộ quan điểm đó, Jean Bodin (1530-1596) cho rằng, Nhà nước phải có quyền lực tuyệt đối, nó ở trên hết thảy, không phụ thuộc vào bất cứ quyền lực nào khác ở trong hay ngoài quốc gia .

Trong thời kỳ Tư bản chủ nghĩa, tư tưởng pháp quyền đã được phục hồi, kế thừa và phát triển mạnh gắn với lý thuyết phân quyền và học thuyết nhà nước pháp quyền tư sản. Chúng ta biết đến những người đại diện cho tư tưởng pháp quyền như: Thomas Hobbes (1588-1679), John Locke (1632-1704), C.L. Montesquieu (1689-1755), Jean-Jacques Rousseau (1712-1788), Immanuel Kant (1724-1804). Chẳng hạn, nói về vai trò của pháp luật trong mối quan hệ với Nhà nước, Immanuel Kant (1724-1804) cho rằng, Nhà nước là sự liên kết mọi người trong khuôn khổ của pháp luật nhằm giám sát và đảm bảo quyền bình đẳng cho mọi công dân. Nhà nước lý tưởng là ở đó pháp luật chiếm địa vị tối thượng, không phụ thuộc vào bất cứ một cá nhân nào .

Theo Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770-1831), Nhà nước hiện đại chỉ xuất hiện khi có sự khác biệt giữa các đẳng cấp trong xã hội, khi sự chênh lệch giữa người giàu và người nghèo trở nên quá lớn . Hegel nói đến Nhà nước hợp lý, ở đó sự thống nhất giữa ý chí của cá nhân với quy luật phát triển tất yếu của xã hội được đảm bảo. Luật pháp của Nhà nước là sản phẩm của một Nhà nước hợp lý và đương nhiên được đề cao. Sự đề cao pháp luật chỉ là hệ quả chứ không phải là tiền đề của nhà nước pháp quyền. Không phải cứ đề cao pháp luật là có được nhà nước pháp quyền . Theo Hegel, đề cao, tôn vinh pháp luật mới chỉ phản ánh được phần nào pháp quyền và nếu chỉ dừng ở quan niệm như vậy thì đó là tư tưởng pháp trị .

2. Vài nét về tư tưởng phương Đông về Nhà nước pháp quyền

Ở phương Đông

Trong xã hội chiếm hữu nô lệ ở Trung Quốc cổ đại diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt xung quanh vấn đề Nhà nước trị nước, an dân bằng những cách thức nào giữa các trường phái chính trị- xã hội khác nhau. Các nhà tư tưởng hồi bấy giờ đã đi tìm kiếm những phương thức cai trị xã hội hữu hiệu, dùng pháp luật hay đạo đức, lễ, nhạc... Nho giáo do Khổng Tử sáng lập, lúc đầu chủ trương "nhân trị", "lễ trị" hoàn toàn nhưng về sau đã phải tìm kiếm đến những yếu tố thích hợp của tư tưởng pháp trị. Lễ trị của Khổng Tử có tác dụng rất sâu sắc và bao quát, nó vừa là sự cụ thể hoá, vừa là công cụ, biện pháp để thực hiện đức trị và "chính danh" , nhằm tạo ra một trật tự trong các quan hệ gia đình và xã hội. Theo Mạnh Tử, vua vâng mệnh Trời để trị dân, nhưng mệnh Trời phải hợp lòng dân, vai trò chủ chốt là của dân và sự phụ thuộc của nhà cầm quyền vào nhân dân. Còn Tuân Tử thì đã kết hợp "lễ trị với luật" để trị nước, có thể coi đây là chiếc cầu nối giữa tư tưởng nhân- lễ trị của Khổng- Mạnh và tư tưởng pháp trị sau này. Phái Mặc gia do Mặc Tử khởi xướng lại lý giải: con người có quyền bình đẳng tự nhiên với nhau và quyền lực tối cao trong xã hội thuộc về dân. Là một học thuyết được xây dựng từ thời Xuân Thu- Chiến Quốc nhưng Nho giáo đã được coi là hệ tư tưởng trong suốt hơn 2000 năm cai trị của giai cấp thống trị phong kiến nhằm củng cố địa vị thế tập của mình.

Tư tưởng chính trị của trường phái Pháp gia đại biểu cho lợi ích của giai cấp địa chủ mới lên trong thời Xuân Thu- Chiến Quốc, với chủ trương trị nước bằng luật pháp, đối lập với quan điểm lễ trị, đức trị của Nho gia. Hàn Phi Tử đã phát triển tư tưởng pháp trị lên đỉnh cao, coi pháp luật là cơ sở duy nhất để quản lý xã hội, pháp luật phải thay đổi theo thời cuộc, "thời biến, pháp biến". Giá trị hiện thực của tư tưởng pháp trị đã giúp Tần Thuỷ Hoàng thu giang sơn về một mối. Nho giáo mà tiêu biểu là Khổng Tử cũng không phủ nhận hoàn toàn vai trò của pháp luật nhưng quan niệm và cách thức vận dụng pháp luật khác nhiều so với Hàn Phi Tử. Cùng là dùng hình luật để cai trị nhưng Pháp gia khác với Nho gia. Pháp gia thì xem việc dùng hình phạt dù nặng hay nhẹ đều là việc hiển nhiên còn Nho gia khi dùng đến hình phạt thì dù sao cũng còn có sự băn khoăn, day dứt, bởi vì Nho gia cho rằng dùng hình phạt không phải là mục đích mà chỉ là phương tiện. Tóm lại, mỗi một phương thức cai trị mà các nhà tư tưởng nêu trên đề xuất đều có những mặt hạn chế, tiêu cực và cả mặt tích cực, chứa đựng đầy mâu thuẫn và kết quả là đã bị áp dụng cực đoan, làm cản trở, bóp nghẹt tiến trình phát triển của xã hội.

3. Vài nét về tư tưởng phương Tây về Nhà nước pháp quyền

Ở phương Tây

Tư tưởng về NNPQ ở phương Tây cổ đại chủ yếu gắn liền với sự phát triển của nền dân chủ Hy Lạp và La Mã, có phần sâu sắc hơn vì được dựa trên cơ sở tư duy triết học, thể hiện sự tìm kiếm cái khách quan, cái duy lý lại được thể nghiệm trong bầu không khí dân chủ ở trình độ tương đối cao. Các nhà tư tưởng chú ý tới tính tối cao của đạo luật và cả tính hợp lý, tới sự tổ chức hợp lý của bộ máy nhà nước, hiểu pháp luật là pháp luật tự nhiên, pháp luật xuất phát từ bản chất lý trí của con người và của thế giới xung quanh con người, pháp luật là thuộc tính vốn có của con người, luật nhà nước phải đáp ứng yêu cầu của luật tự nhiên. Xixerôn coi Nhà nước là trật tự pháp luật chung, bảo vệ tự do cho công dân. Theo Demôkrit, nhân dân phải đấu tranh bảo vệ pháp luật như bảo vệ chốn nương thân của chính mình. Nhà tư tưởng lớn của Hy Lạp Xôkrat đã khẳng định rằng: xã hội không thể tồn tại nếu thiếu pháp luật, Nhà nước phải tôn trọng, phục tùng pháp luật, tôn trọng pháp luật là tôn trọng lý trí, công bằng và trí tuệ phổ biến, nếu không quyền lực sẽ lạc lối. Arixtôt, nhà tư tưởng vĩ đại nhất thời cổ đại cũng khẳng định: pháp luật thống trị trên tất cả và đã đưa ra lý thuyết về sự tổ chức hợp lý của quyền lực nhà nước- bất kỳ Nhà nước nào cũng phải có ba bộ phận: cơ quan làm luật, cơ quan thực hành pháp luật, cơ quan toà án xét xử. Nhà triết học Hy Lạp cổ đại Platôn đã viết: nếu pháp luật không có sức mạnh, bị đặt dưới quyền lực của ai đó thì nhà nước sẽ diệt vong.

4. Nhà nước pháp quyền theo tư tưởng của các học giả tư sản

Theo các học giả tư sản, nhà nước pháp quyền phải bảo đảm các yếu tố sau:

Thứ nhất, nguồn gốc của quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân với học thuyết khế ước xã hội.

Thứ hai, phải có hệ thống pháp luật thể hiện ý chí của nhân dân mà không thể hiện ý chí của nhà nước; hệ thống pháp luật về những quyền tự nhiên vốn có của con người. Trong đó quyền sở hữu là thiêng liêng và bất khả xâm phạm.

Thứ ba, nhà nước ban hành pháp luật (theo ý chí nhân dân) nhưng nhà nước cũng phải tuân thủ triệt để hệ thống pháp luật ấy.

Thứ tư, quyền lực nhà nước phải được kiểm soát thông qua các thiết chế và cơ chế phù hợp nhằm ngăn chặn xu hướng lạm quyền, độc tài cho dù đó là độc tài cá nhân hay quả đầu chế (độc tài của nhóm người).

Để thực hiện tốt các nội dung trên, các học giả tư sản cho rằng trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền cần phải thực hiện triệt để các nội dung sau:

- Phải xây dựng Hiến pháp thành văn quy định rõ quyền và nghĩa vụ của công dân - gắn liền với những quyền tự nhiên vốn có của con người.

- Quyền tự do, dân chủ là là tất yếu, những quyền này gắn liền với xã hội dân sự, bao gồm quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội…

- Quyền lực nhà nước phải được kiểm soát bởi chính cơ chế bên trong của nó (tự kiểm soát). Muốn vậy phải thực hiện tam quyền phân lập để xây dựng cơ chế đối trọng, kiểm soát quyền lực giữa các nhánh thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp theo nguyên tắc “tham vọng phải được sử dụng để chống lại tham vọng”.

- Để hạn chế sự chuyên quyền và độc tài đòi hỏi phải có đa nguyên về chính trị và đa đảng đối lập, tạo cơ chế cạnh tranh trong lãnh đạo nhà nước, bảo đảm hiệu quả lãnh đạo cao hơn, dân chủ hơn.

- Phải có một hệ thống tư pháp độc lập trong xét xử, có quyền giải thích luật, đối trọng với bộ máy thực hiện quyền hành pháp và quyền lập pháp

- Mọi chủ thể trong xã hội phải bình đẳng trước pháp luật, không có đặc quyền hay ưu tiên.

Tóm lại, các học giả tư sản đã phát triển tư tưởng nhà nước pháp quyền lên tầm cao mới, xác định đầy đủ hơn nội dung, tính chất của nhà nước pháp quyền, hình thức để kiểm soát quyền lực nhà nước và cách thức xây dựng nhà nước pháp quyền tư sản. Thực tế, học thuyết về nhà nước pháp quyền tư sản đã được vận dụng vào việc xây dựng nhà nước pháp quyền và đạt được những thành công nhất định đối với các nước phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên không hiểu vô tình hay cố ý, các học giả theo hệ tư tưởng tư sản không thấy được bản chất giai cấp của nhà nước, của pháp luật và nguồn gốc sâu xa của mọi áp bức bất công, khổ đau của nhân loại chính là ở chế độ tư hữu.

5. Nhà nước pháp quyền theo chủ nghĩa Mác-Lênin

Kế thừa và phát huy những giá trị tư tưởng của nhân loại, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin không những thừa nhận mà còn có những đóng góp to lớn vào lý luận về nhà nước pháp quyền thật sự của dân, do dân và vì dân.

Trong toàn bộ học thuyết đồ sộ của mình về Triết học, Kinh tế chính trị và Chủ nghĩa xã hội, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin tuy không dành riêng một phần hay chương nào để nói về nhà nước pháp quyền nhưng trong toàn bộ kho tàng đồ sộ ấy, tư tưởng về một nhà nước pháp quyền kiểu mới, nhà nước pháp quyền của giai cấp công nông đã xuất hiện nhiều lần, phản ánh đầy đủ nội dung và tính chất của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Không như các học giả tư sản, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin khi bàn về nhà nước pháp quyền đều khẳng định nhà nước pháp quyền, pháp luật của nhà nước ấy (thừa nhận hoặc ban hành) đều là sản phẩm của giai cấp và mâu thuẫn giai cấp, không có nhà nước pháp quyền, pháp luật chung chung, không mang bản chất giai cấp. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph. Ăngghen đã kết luận: “Pháp quyền của các ông chỉ là ý chí của giai cấp các ông được đề lên thành pháp luật, cái ý chí mà nội dung là do những điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp các ông quyết định”.

Những tư tưởng cốt lõi về nhà nước pháp quyền trong học thuyết Mác- Lênin:

Một là, bản chất dân chủ trong nhà nước. Theo chủ nghĩa Mác thì dân chủ là “nhân dân nắm chính quyền”. Nghĩa là nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, nhân dân tạo nên nhà nước chứ không phải nhà nước tạo nên nhân dân. Mác viết: “Chế độ dân chủ xuất phát từ con người và biến nhà nước thành con người được khách thể hóa. Cũng giống như tôn giáo không tạo ra con người mà con người tạo ra tôn giáo, ở đây cũng vậy: Không phải chế độ nhà nước tạo ra nhân dân mà nhân dân tạo ra nhà nước

Hai là, chủ thể quyền lực nhà nước phải thuộc về đa số - Nhân dân. C.Mác chỉ ra sự khác biệt cơ bản giữa dân chủ vô sản và dân chủ tư sản, phê phán sự hạn chế của dân chủ trong nhà nước tư sản. Dân chủ tư sản dù có tiến bộ hơn rất nhiều so với các chế độ dân chủ trước nó nhưng dân chủ tư sản vẫn là dân chủ của số ít thuộc giai cấp tư sản để bóc lột đa số nhân dân là giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Đó là dân chủ giả hiệu, chỉ có dân chủ xã hội chủ nghĩa mới thật sự là dân chủ cho số đông, cho nhân dân thật sự, quyền lực nhà nước phải thuộc về số đông ấy.

Ba là, bản chất giai cấp công nhân và tính nhân dân rộng rãi trong nhà nước pháp quyền. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mac luôn khẳng định bản chất giai cấp của nhà nước và pháp luật, đồng thời thấy được tính xã hội của nhà nước và pháp luật. Vì vậy, trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phải xây dựng một một nhà nước mang bản chất của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Nghĩa là phải xây dựng nhà nước để phục vụ cho số đông, của toàn thể nhân dân dưới sự lãnh đạo bởi chính đảng của giai cấp công nhân - Đảng Cộng sản.

Thứ tư, trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước hiệu quả, sự kiểm soát ấy phải xuất phát từ nhân dân - chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước.