1. Thủ đoạn lừa đảo mua nhà ở xã hội

Trong nhiều năm trở lại đây, nhiều tỉnh, thành phố đã quan tâm, đầu tư xây dựng nhiều chung cư, nhà ở xã hội, giải quyết vấn đề chỗ ở cho rất nhiều người, đặc biệt là những người có thu nhập thấp. Lợi dụng điều đó, nhiều đối tượng môi giới đã triệt để khai thác những lỗ hổng và sự thiếu hiểu biết của người mua nhà để lừa đảo. Tin lời hứa của đối tượng môi giới bất động sản, nhiều khách hàng bỏ ra một số tiền lớn để đặt cọc mua nhà, số tiền sau đó đã không cánh mà bay. Việc mua, bán nhà ở xã hội chưa đủ điều kiện đang diễn ra khá phổ biến, khách hàng khi mua lại những căn hộ này theo hình thức này sẽ đối diện với rủi ro về pháp lý.

 Những đối tượng lừa đảo mua nhà ở xã hội thường tự xưng là Trưởng phòng, Phó phòng thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, có khả năng xin sổ trợ cấp xã hội và mua nhà ở xã hội. Một số người nghèo do tin tưởng đã đưa tiền tích góp cho các đối tượng. Trong đó, mỗi suất chạy mua căn hộ chung cư nhà ở xã hội có giá 50-100 triệu đồng. Sau khi nhận tiền, các đối tượng nhanh chóng cắt đứt mọi liên lạc với nạn nhân.

Theo quy định pháp luật hiện hành, các chung cư nhà ở xã hội thuộc quyền sở hữu của nhà nước, các trường hợp muốn mua nhà phải đáp ứng đủ các điều kiện theo Luật Nhà ở năm 2014. Thực tế, đối với những căn hộ này, nếu chưa đủ điều kiện giao dịch thì các bên mua bán “chui” chỉ tiến hành làm hợp đồng trao tay và không có bất kỳ giá trị pháp lý nào. Sau này người mua lại nhà muốn hợp pháp hóa sẽ rất khó khăn, vì là giao dịch bất hợp pháp ngay từ đầu và có nguy cơ không thể sang tên để vào sổ đỏ. Nếu có tranh chấp xảy ra, tòa án sẽ tuyên hợp đồng mua bán này vô hiệu. Nếu người bán lật lọng, đòi lại nhà, người mua lại sẽ phải chịu thiệt.

Để tránh tình trạng bị những đối tượng xấu lợi dụng nhằm chiếm đoạt tài sản thì người dân không nên mua các căn hộ chung cư thuộc sở hữu Nhà nước đang được rao bán. Chủ trương của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố là chỉ bố trí cho thuê chung cư đối với các đối tượng chính sách, hộ nghèo, hộ giải tỏa, cán bộ, công chức, viên chức..., nghiêm cấm việc mua bán, sang nhượng, cho thuê lại dưới mọi hình thức. Nếu người dân phát hiện việc mua, bán chung cư, nhà ở xã hội trái phép thì phản ánh ngay với cơ quan chức năng.

 

2. Nhận 100 triệu để chạy suất mua nhà ở xã hội nhưng không trả thì có phải lừa đảo không?

Hành vi nhận 100 triệu để chạy suất mua nhà ở xã hội nhưng không trả trong trường hợp đưa ra thông tin gian dối sai sự thật khiến nạn nhân tin tưởng giao tiền và sau đó đối tượng lừa đảo chiếm đoạt luôn số tiền này và không có thiện chí trả cho nạn nhân là hành vi có dấu hiệu của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với khung hình phạt như sau:

Khung 1: Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

- Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

+  Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

+ Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

+ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

+ Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

Khung 2: Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

+ Có tổ chức;

+ Có tính chất chuyên nghiệp;

+ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

+ Tái phạm nguy hiểm;

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

+  Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

+ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.

Khung 3:  Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

+ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

+ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

+ Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

Khung 4: Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

+ Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

+ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

+ Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

- Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

 

3. Hoàn trả lại tài sản đã lừa đảo thì có còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Mặc dù đối tượng lừa đảo có thiện chí hoàn trả lại số tiền và bồi thường cho nạn nhân thì người có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại điều 174 Bộ luật hình sự vì những lý do sau:

- Bộ luật Hình sự là luật công, điều chỉnh mối quan hệ giữa Nhà nước và người phạm tội. Trong khi đó, luật dân sự là luật tư, điều chỉnh mối quan hệ giữa cá nhân với nhau. Vì vậy việc hoàn trả, bồi thường cho nạn nhân thuộc phạm trù của luật dân sự, giải quyết vấn đề giữa các bên (bên gây ra thiệt hại - bên bị thiệt hại). Còn hành vi phạm tội của người phạm tội sẽ bị phát giác và Nhà nước xử lý theo đúng quy định của Bộ luật Hình sự

- Căn cứ theo quy định tại Điều 1 của Bộ luật hình sự, một trong những nhiệm vụ của Bộ luật Hình sự đó là bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội; đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

- Theo quy định của Bộ luật Hình sự, mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật. Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội.

Do đó, người có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản vẫn sẽ bị nhà nước xử lý đối với hành vi phạm tội của mình. Nếu người có hành vi vi phạm đã tự nguyện bồi thường và hoàn trả lại số tiền đã lừa đảo nên đây sẽ là một trong những tình tiết giảm nhẹ để Tòa án xem xét ra quyết định hình phạt.

Để tham khảo thêm thông tin về vấn đề này, quý khách hàng có thể tìm hiểu tại bài viết: Lừa đảo CTV bán hàng online thì bị phạt bao nhiêu năm tù? của Luật Minh Khuê.

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Nhận 100 triệu để chạy suất mua nhà ở xã hội nhưng không trả thì có phải lừa đảo không? mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.

Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!