Chào bạn, trước tiên Công ty Luật Minh Khuê xin cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật của công ty chúng tôi. Với câu hỏi của bạn Luật sư của công ty chúng tôi đã nghiên cứu và trả lời như sau: 

Cơ sở pháp lý

Luật thuế giá trị gia tăng năm 2008;

Luật thuế giá trị gia tăng sửa đổi năm 2013;

Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2013 Thông tư hướng dẫn thi hành Luật thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn hi hành một số điều Luật thuế giá trị gia tăng; 

Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27 tháng 02 năm 2015 Thông tư hướng dẫn về thuế giá trị gia tăng và quản lý thuế tại Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 2 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31 tháng 3 năm 2014 của Bộ tài chính về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ;

Thông tư số 07/2012/TT-NHNN ngày 20 tháng 03 năm 2012 Thông tư quy định về trạng thái ngoại tệ của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; 

Pháp lệnh ngoại hối năm 2005

Thông tư số 32/2013/TT-NHNN ngày 26 tháng 12 năm 2013 Thông tư hướng dẫn thực hiện quy định hạn chế sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam; 

Thông tư số 02/2021/TT-NHNN ngày 31 tháng 3 năm 2021 Thông tư hướng dẫn giao dịch ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ của các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối.

Nội dung trả lời: 

 

1. Khái niệm ngoại tệ

Ngoại tệ là một loại của ngoại hối, Khoản 1 Điều 2 Thông tư số 07/2012/TT-BTC định nghĩa ngoại tệ là đồng tiền chung của quốc gia, vùng lãnh thổ khác hoặc đồng tiền chung Châu  và đồng tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực. Trong giai đoạn hiện nay một số đồng ngoại tệ mạnh được sử dụng thông dụng trong thị trường của các quốc gia gồm có: USD (đô la Mỹ), EURO (đồng tiền chung Châu Âu), YJP (yên Nhật), GBP (bảng Anh), CHF (đồng Phăng Thụy Sĩ),......

Theo Pháp luật ngoại hối của Việt Nam có quy định những người cư trú sẽ được quyền mua ngoại tệ tại các tổ chức tín dụng để thực hiện thanh toán nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ; được quyền mua, chuyển, mang ngoại tệ ra nước ngoài để phục vụ cho các nhu cầu hợp pháp của mình cũng như là để thanh toán các khoản nợ gốc, lãi và các chi phí có liên quan của các khoản vay nước ngoài (điều này được quy định tại Khoản 1 điều 7, Khoản 3 Điều 8 và Điều 17 Pháp lệnh ngoại hối năm 2005).

 

2. Hoạt động nhận ngoại tệ qua ngân hàng có phải nộp thuế Giá trị gia tăng không?

Căn cứ theo quy định tại Điều 2 Thông tư số 219/2013/TT - BTC quy định về đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng là các loại hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam (hàng hóa, dịch vụ này bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài). Những hàng hóa, dịch vụ này đủ điều kiện được nêu ở trên nhưng sẽ không thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng khi thuộc các trường hợp được quy định tại Điều 4 Thông tư số 219/2013/TT - BTC. 

Pháp lệnh ngoại hối năm 2005 và Khoản 2 Điều 4 Thông tư số 32/2013/TT-NHNN quy định về việc ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối được phép giao dịch bằng ngoại tên trên lãnh thổ Việt Nam. Do đó việc công ty bạn nhận ngoại tệ qua ngân hàng được xác định là một trong những hoạt động giao dịch ngoại hối (cụ thể là giao dịch ngoại tệ), mặt khác các loại hình giao dịch ngoại tệ theo Thông tư số 02/2021/TT-NHNN sẽ bao gồm các hoạt động giao dịch mua, bán ngoại tệ giao ngay; giao dịch mua bán ngoại tệ kỳ hạn; giao dịch hoán đổi ngoại tệ; giao dịch quyền chọn mua, chọn bán ngoại tệ. Cụ thể: 

  • Giao dịch mua bán ngoại tệ ngay là giao dịch hai bên cam kết mua, bán một lượng đồng tiền này với một đồng tiền khác với tỷ giá xác định tại thời điểm giao dịch và ngày thanh toán tối đa là 02 ngày làm việc kể từ ngày giao dịch; 
  • Giao dịch mua bán ngoại tệ kỳ hạn là giao dịch hai bên cam kết mua, bán một lượng đồng tiền này với một đồng tiền khác với tỷ giá xác định tại thời điểm giao dịch và ngày thanh toán tối thiểu là 03 ngày làm việc kể từ ngày giao dịch; 
  • Giao dịch hoán đổi ngoại tệ là giao dịch giữa hai bên, bao gồm một giao dịch mua và một giao dịch bán cùng số lượng một đồng tiền này với một đồng tiền khác với tỷ giá của hai giao dịch xác định tại thời điểm giao dịch và ngày thanh toán của hai giao dịch là khác nhau. Giao dịch hoán đổi bao gồm hai giao dịch giao ngay hoặc bao gồm hai giao dịch kỳ hạn hoặc một giao dịch giao ngay một giao dịch kỳ hạn.
  • Giao dịch quyền chọn mua, bán ngoại tệ là giao dịch giữa hai bên, trong đó bên mua trả cho bên bán giá mua quyền chọn để có quyền những không có nghĩa vụ mua hoặc bán một lượng ngoại tệ này với một ngoại tệ khác trong một khoảng thời gian do hai bên thỏa thuận theo tỷ giá thực hiện được xác định tại thời điểm giao dịch và thanh toán vào một ngày tương lai. Nếu bên mua lựa chọn thực hiện quyền, bên bán phải thực hiện nghĩa vụ theo cam kết. Trong giao dịch quyền chọn, quyền chọn bán đồng tiền này đồng thời là quyền chọn mua đồng tiền khác.

(Thuật ngữ giao dịch ngoại tệ được sử dụng trong Thông tư số 02/2021/TT-NHNN sẽ được sử dụng đồng nghĩa với thuật ngữ giao dịch hối đoái được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật khác của Việt Nam có liên quan - những văn bản này sẽ do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành)

Như vậy nếu trường hợp bên bạn nhận tiền thông qua các hoạt động dịch vụ ngoại hối của ngân hàng, tổ chức tín dụng thì sẽ được xác định là bên bạn sử dụng dịch vụ của ngân hàng, tổ chức tín dụng và thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định tại Điều 2 Thông tư số 219/2013/TT-BTC. 

Tuy nhiên căn cứ theo quy định tại Khoản 8 Điều 5 Luật thuế giá trị gia tăng (được sửa đổi bởi Khoản 1 Điều 1 Luật thuế giá trị gia tăng sửa đổi năm 2013), Khoản 8 Điều 4 Thông tư số 219/2013/TT-BTC (được sửa đổi bởi Khoản 3 Điều 1 Thông tư số 26/2015/TT-BTC) thì các dịch vụ cấp tín dụng; kinh doanh chứng khoán; chuyển nhượng vốn; dịch vụ tài chính phát sinh, bao gồm hoán đổi lãi suất, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, quyền chọn mua, bán ngoại tệ và các dịch vụ tài chính phát sinh khác theo quy định của pháp luật sẽ thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng. 

Những hoạt động kinh doanh ngoại tệ được cho phép theo quy định của pháp luật Việt Nam (quy định của Pháp lệnh ngoại hối, Thông tư số 32/2013/TT-NHNN, Thông tư số 02/2021/TT-NHNN và các văn bản khác có liên quan) được xác định là các dịch vụ tài chính, ngân hàng, kinh doanh chứng khoán thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng được nêu ở trên. 

 

3. Kết luận câu hỏi 

Dựa trên những phân tích và căn cứ pháp lý đã được nêu ở trên thì đối với trường hợp bên bạn nhận ngoại tệ qua ngân hàng Hong Leong Việt Nam (sử dụng dịch vụ ngoại hối của ngân hàng) thì bên ban sẽ thuộc những trường hợp không chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định tại Điều 5 Luật thuế giá trị gia tăng năm 2008 và Điều 4 Thông tư số 219/2013/TT-BTC. Vậy nên việc bên bạn nhận tiền từ ngân hàng và phải đóng thuế giá trị gia tăng là 0,01% là hoàn toàn không phù hợp với các quy định pháp luật hiện hành. 

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê đã nghiên cứu và biên soạn. Trường hợp Quý khách hàng còn bất cứ vướng mắc gì về nội dung thuế giá trị gia tăng khi nhận ngoại tệ từ ngân hàng Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp với bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài số: 19006162 để được hỗ trợ trực tiếp. Rất mong nhận được sự hợp tác từ Quý khách hàng. Trân trọng!