1. Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng

Luật thuế giá trị gia tăng 2008, sửa đổi bổ sung 2013 đã nêu rõ, hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, trừ các đối tượng không chịu thuế.

Khá nhiều người có cái nhìn nhầm lẫn rằng, chỉ có doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa, dịch vụ mới phải quan tâm và đề cấp đến thuế giá trị gia tăng. Thế nhưng, cần lưu ý rằng thuế giá trị gia tăng là một loại thuế gián thu, loại thuế này được cộng vào giá bán hàng hóa, dịch vụ khi người tiêu dùng sử dụng những sản phẩm đó. Vậy là chính chúng ta, người sử dụng sản phẩm, dịch vụ là người phải có nghĩa vụ đóng thuế cho cơ quan Nhà nước nhưng người trực tiếp thực hiện nghĩa vụ đóng thuế này với nhà nước là đơn vị sản xuất, kinh doanh. Đây cũng chính là nguyên nhân chính khiển nhiều người hiều lầm rằng chỉ có doanh nghiệp hay cá nhân kinh doanh mới phải đóng thuế giá trị gia tăng.

Vậy chúng ta cùng tìm hiểu kỹ cụ thể những người nào phải nộp thuế giá trị gia tăng. Điều 4 Luật thuế giá trị gia tăng 2008, sửa đổi bổ sung 2013 quy định người nộp thuế như sau:

Thứ nhất, người nộp thuế giá trị gia tăng là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế giá trị gia tăng. Vậy điểm chung của những người nộp thuế này là kinh doanh hoặc nhập khẩu loại hàng hóa chịu thuế giá trị gia tăng.

Thứ hai, Tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh tại Việt Nam mua dịch vụ của tổ chức nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, cá nhân ở nước ngoài là đối tượng không cư trú tại Việt Nam thì tổ chức, cá nhân mua dịch vụ là người nộp thuế, trừ trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng. 

 

2. Đối tượng không chịu thuế gia tăng.

Có khá nhiều đối tượng được xếp vào loại không phải chịu thuế giá trị gia tăng. Nếu dựa trên quy định pháp luật thì có thể thấy rằng các đối tượng này đã được quy định định cụ thể tương ứng với từng khoản trong Điều luật. Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng không phải lúc nào những điều khoản đó cũng được người đọc hiểu rõ và cắt nghĩa đầy đủ cũng như đúng với tinh thần của người làm luật. Luật Minh Khuê sẽ phân tích các đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng như sau:

Một là, sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu.

Doanh nghiệp, hợp tác xã mua sản phẩn trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã khác thì không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng nhưng được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.

Đối với những sản phẩm thuộc mục một này, Luật Minh Khuê sẽ phân tích kỹ ở mục thứ ba của bài việt  này. Đây cũng chính là tiêu đề chính và ý chính của bài việt này. 

Hai là, sản phẩm là giống vaajtj nuôi, giống cây trồng, bao gồm trứng giống, con giống, hạt giống, tinh dịch, phôi, vật liệu di truyền.

Ba là, Tưới, tiêu nước, cày, bừa đất, nạo vét kênh, mương nội đồng phục vụ sản xuất nong nghiệp; dịch vụ thu hoạch sản phẩm nông nghiệp.

Bốn là, sản phẩm muối được sản xuất từ nước biển, muối mỏ tự nhiên, muối tinh, muối i-ốt mà thành phần chính là Na-tri-clo-rua (NaCl).

Năm là, nhà ở thuộc sở hữu nhà nước, do nhà nước bán cho người đang thuê. Nhà thuộc sở hữu nhà nước là nhà do Nhà nước quản lý, sử dụng và định đoạt. Dựa trên kế hoạch sử dụng Nhà nước có thể cho thuê, sau một khoảng thời gian cho thuê Nhà nước bán và ưu tiên bán cho người đang thuê.

Sáu là, chuyển quyền sử dụng đất. Chuyển quyền sử dụng đất chính là sự chuyển giao quyền sử dụng đất từ người này sang người khác thông qua các hình thức chuyển đối, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho chuyển sử dụng đất và góp vốn bằng quyền sử dụng đất.

Bảy là, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm người học, các dịch vụ bảo hiểm khác liên quan đến con người, bảo hiểm vật nuôi, bảo hiểm cây trồng, các dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp khác; bảo hiểm tàu, thuyền, trang thiết bị và các dụng cụ cần thiết khác phục vụ trực tiếp đánh bắt thủy sản, tái bảo hiểm.

Tám là, dịch vụ cấp tín dụng, kinh doanh chứng khoán, chuyển nhượng vốn, dịch vụ tài chính phát sinh, bao gồm hoàn đổi lãi suất, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, quyền chọn mua, bán ngoại tệ và các dịch vụ tài chính phát sinh khác theo quy định pháp luật.

Chín là, dịch vụ y tế, dịch vụ thú y, bao gồm dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, phòng bệnh cho người và vật nuôi, dịch vụ chăm sóc người cao tuổi, người khuyết tật.

Mười là, dịch vụ bưu chính, viễn thông công ích và in-ter-net phổ cập theo chương trình Chính Phủ.

Mười một là, dịch vụ duy trì vườn thú, vườn hoa, công viên, cây xanh đường phố, chiếu sáng công cộng, dịch vụ tang lễ.

Mười hai là, Duy tu, sừa chữa, xây dựng bằng nguồn vốn đóng góp của nhân dân, vốn viện trợ nhân đạo đối với các công trình văn hóa, nghệ thuật, công trình phục vụ công cộng, cơ sở hạ tầng và nhà ở cho đối tượng chính sách xã hội.

Mười ba là, dạy học, dạy nghề theo quy định pháp luật;

Mười bốn là, phát sóng truyền thanh, truyền hình bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước.

Mười năm là, Xuất bản, nhập khẩu, phát hành báo, tạp chí, bản tin chuyên ngành, sách chính trị, sách giáo khoa, giáo trình, sách văn bản pháp luật, sách khoa hoạc - kỹ thuật, sách in bằng chữ dân tộc thiểu số và tranh, ảnh, áp phích tuyền truyền cổ động, kể cả dưới dạng bằng hoặc đĩa ghi tiếng, ghi hình, dữa liệu điện tử, tiền, in tiền.

Mười sáu là, vận chuyển hành khách công cộng bằng xe buýt, xe điện.

Mười bảy là, máy móc, thiết bị, phụ tùng, vật tư thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cân nhập khẩu để sử dụng trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghêm máy móc, thiết bị, phụ tùng thay thế, phương tiện vận tải chuyên dùng và vật tư thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu để tiến hành hoạt động tìm kiểm, thăm dò, phát triển mỏ dầu, khí đốt, tàu bay, dàn khoan, tàu thủy thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu để tạo tài sản cố định của doanh nghiệp hoặc thuê của nước ngoài để sử dụng cho sản xuất, kinh doanh, cho thuê, cho thuê lại.

Mười tám là, vũ khí, khí tài nguyên chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an ninh.

Mười chín là, hàng hóa nhập khẩu trong trường hợp viện trợ nhân đạom viện trợ không hoàn lại, quà tặng cho cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, quà biếu, quà tặng cho cá nhân tại Việt Nam theo mức quy định của Chính ohur, đồ dùng của tổ chức, cá nhân nước ngoài theo tiêu chuẩn miễn trừ ngoại giao, hàng kmang theo người trong tiêu chuẩn hành mý miễn thuế,

Hàng hóa, dịch vụ bán cho tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế để viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam.

Hai mươi là, hàng hóa chuyển khẩu, quá cảnh qua lãnh thổ Việt Nam; hàng tạm nhập khẩu, tái xuất khẩu, tái nhập khẩu; Nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất, gia công hàng hóa xuất khẩu theo hợp đồng sản xuất, giao công xuất khẩu ký kết với bên nước ngoài; hàng hóa, dịch vụ được mua bán giữa người nước ngoài với các khu phi thuế quan và giữa các khu phi thuế quan với nhau.

Hai mươi mốt, chuyển giao công nghiệp theo quy định của luật chuyển giao công nghệ, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ, phần mềm máy tính.

Hai mươi hai, vàng nhập khẩu dạng thỏi, miếng chưa được chế tác thành sản phẩm mỹ nghệ, trang sức hay sản phẩm khác.

Hai mươi ba, sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến thành sản phẩm khác, sản phẩm xuất khẩu là hàng hóa được chế biến từ tài nguyên, khoáng sản có tổng giá trị tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trờ lên.

Hai mươi tư, sản phẩm nhân tạo dùng để thay thế cho bận phận cơ thể của người bệnh; nạng, xe lăn và các dụng cụ chuyên dùng khác cho người khuyết tật.

Hai mươi năm, hàng hóa, dịch vụ của hộ, cá nhân kinh doanh có mức doanh thu hàng năm từ một trăm triệu đồng trở xuống.

 

3. Nhập khẩu sản phẩm sơ chế có phải nộp thuế giá trị gia tăng.

Như đã phân tích ở mục 2, sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chỉ qua sơ chế thông thường của các tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu thuộc đối tượng không chịu thuế gia trị gia tăng. 

Vậy như thế nào là sản phẩm qua sơ chế thông thường?

Theo quy định Khoản 1 Điều 1 Thông tư 26/2015/TT-BTC hướng dẫn: Các sản phẩm qua sơ chế thông thường là sản phẩm mới được làm sạch, phơi, sấy khô, bóc vỏ, xay, xay bỏ vỏ, xát bỏ vỏ, tách hạt, tách cọng, cắt, ướp muối, bảo quản lạnh (ướp lạnh, đông lạnh), bảo quản bằng khí sunfuro, bảo quản theo phương thức cho hóa chất để tránh thối rữa, ngâm trong dung dịch lưu huỳnh hoặc ngâm trong dung dịch bản quản khác và các hình thức bảo quản thông thường khác. 

Ví dụ: Công ty A ký hợp đồng nuôi heo với công ty B theo hình thức công ty B giao cho công ty A con giống, thức ăn, thuốc thú ý, công ty A giao, bán cho công ty B sản phẩm heo thì tiền công nuôi heo nhận từ công ty B và sản phẩm heo công ty A giao, bán cho công ty B thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng.

Như vây, có thể thấy rằng để xác định nhập khẩu sản phẩm sơ chế có phải nộp thuế giá trị gia tăng hay không thì điều đầu tiên cần xác định được rằng sản phẩm nhập khẩu đó có phải là sản phẩm sơ chế hay không? nếu là sản phẩm sơ chế thì không thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng.

Rất nhiều doanh nghiệp vẫn đang lúng túng xác định liệu sản phẩm nhập khẩu của mình có thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng hay không. Luật Minh Khuê đã hỗ trợ rất nhiều doanh nghiệp tìm được câu trả lời chính xác, từ đó dẫn đến sự phát triển vượt bậc của doanh nghiệp khách hàng. Vì vậy, nếu ngay lúc này bạn đọc cũng đang có câu hỏi tương tự thì hay gọi đến chúng tôi: 1900.6162 để Luật Minh Khuê,sẵn sàng hỗ trợ giải đáp vướng mắc, tư vấn pháp luật thuế. Trân trọng cảm ơn!