1. Quyền hạn chung
Hiến pháp và Luật Tổ chức của Quốc hội quy định rằng Quốc hội nước ta có ba nhiệm vụ chính: thực hiện quyền lập hiến và quyền lập pháp; quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. Theo Điều 70 của Hiến pháp 2013, Quốc hội có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
(1) Soạn thảo và sửa đổi Hiến pháp; ban hành và sửa đổi luật pháp.
(2) Thực hiện giám sát tối cao đối với việc tuân thủ Hiến pháp, luật pháp và các nghị quyết của Quốc hội; xem xét báo cáo về hoạt động của Tổng thống, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng Bầu cử Quốc gia, Kiểm toán Nhà nước và các cơ quan khác do Quốc hội thành lập.
(3) Quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách và nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
(4) Quyết định chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ của quốc gia; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các loại thuế; quyết định phân chia thu nhập và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; quyết định mức nợ quốc gia, nợ công, nợ chính phủ; phê chuẩn dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước.
(5) Quyết định chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước.
(6) Quy định tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Tổng thống, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng Bầu cử Quốc gia, Kiểm toán Nhà nước, chính quyền địa phương và các cơ quan khác do Quốc hội thành lập.
(7) Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Tổng thống, Phó Tổng thống, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Hội đồng Bầu cử Quốc gia, Tổng Kiểm toán Nhà nước, người đứng đầu cơ quan khác do Quốc hội thành lập; phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; phê chuẩn danh sách thành viên Hội đồng Quốc phòng và An ninh, Hội đồng Bầu cử Quốc gia.
(8)Thực hiện biểu quyết tín nhiệm đối với các cá nhân nắm giữ chức vụ được bầu hoặc phê chuẩn bởi Quốc hội.
(9) Quyết định thành lập, bãi bỏ Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; thành lập, giải thể, sáp nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; thành lập, bãi bỏ các cơ quan khác theo quy định của Hiến pháp và luật pháp.
(10) Bãi bỏ văn bản của Tổng thống, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao mà vi phạm Hiến pháp, luật pháp, nghị quyết của Quốc hội.
(11) Quyết định đại xá.
(12) Quy định hàm, cấp trong lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao và các hàm, cấp khác của nhà nước; quy định huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự của nhà nước.
(13) Quyết định về vấn đề chiến tranh và hòa bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác để bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia.
(14) Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn, quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực của các điều ước quốc tế liên quan đến chiến tranh, hòa bình, chủ quyền quốc gia, tư cách thành viên của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại các tổ chức quốc tế và khu vực quan trọng, các điều ước quốc tế về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và các điều ước quốc tế khác vi phạm luật pháp, nghị quyết của Quốc hội.
(15) Quyết định tổ chức trưng cầu ý dân.
2. Quyền hạn liên quan đến dự toán ngân sách nhà nước
Theo Điều 4, Khoản 8 của Luật Ngân sách Nhà nước 2015, đề cập đến khái niệm về Dự phòng ngân sách nhà nước như sau: Dự phòng ngân sách nhà nước là một khoản mục trong dự toán chi ngân sách chưa được phân bổ và đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định ở mỗi cấp ngân sách.
Dự phòng ngân sách nhà nước cũng có thể được hiểu là Dự toán ngân sách nhà nước. Do đó, Dự toán ngân sách nhà nước là một khoản mục trong dự toán chi ngân sách chưa được phân bổ và đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định ở mỗi cấp ngân sách.
Dựa trên quy định của Điều 19 trong Luật Ngân sách Nhà nước 2015, nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội được xác định cụ thể như sau:
- Ban hành và sửa đổi các luật trong lĩnh vực tài chính - ngân sách.
- Quyết định các chính sách cơ bản về tài chính - ngân sách nhà nước; quy định, sửa đổi hoặc hủy bỏ các loại thuế; đề ra mức giới hạn an toàn cho nợ quốc gia, nợ công, nợ chính phủ.
- Quyết định kế hoạch tài chính 05 năm.
- Quyết định dự toán ngân sách nhà nước bao gồm:
+ Tổng số thu nhập của ngân sách nhà nước, bao gồm thu nhập nội địa, thu nhập từ dầu thô, thu nhập từ hoạt động xuất nhập khẩu, và thu nhập từ viện trợ không hoàn lại.
+ Tổng số chi tiêu của ngân sách nhà nước, bao gồm chi tiêu của ngân sách trung ương và chi tiêu của ngân sách địa phương, chi tiết theo các mục như đầu tư phát triển, dự trữ quốc gia, chi tiêu thường xuyên, chi trả lãi và trả nợ, chi tiêu viện trợ, và chi tiêu bổ sung vào quỹ dự trữ tài chính và dự phòng ngân sách. Trong đó, các mức chi tiêu cụ thể cho lĩnh vực giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ cũng được xác định.
+ Bội chi của ngân sách nhà nước, bao gồm bội chi của ngân sách trung ương và bội chi của ngân sách địa phương, cùng với nguồn tài chính để bù đắp bội chi.
+ Tổng mức vay của ngân sách nhà nước, bao gồm vay để bù đắp bội chi của ngân sách nhà nước và vay để trả nợ gốc của ngân sách nhà nước.
- Quyết định phân bổ ngân sách của ngân sách trung ương bao gồm:
+ Tổng số chi tiêu của ngân sách trung ương, bao gồm các mục như đầu tư phát triển, chi tiêu thường xuyên, dự trữ quốc gia, chi trả lãi và trả nợ, chi viện trợ, và chi tiêu bổ sung vào quỹ dự trữ tài chính và dự phòng ngân sách.
+ Dự toán chi tiêu cho đầu tư phát triển, chi tiêu thường xuyên, dự trữ quốc gia, và chi tiêu viện trợ của từng bộ, cơ quan ngang bộ, và cơ quan thuộc Chính phủ theo từng lĩnh vực.
+ Mức bổ sung từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương, bao gồm cả bổ sung để cân đối ngân sách và bổ sung có mục tiêu.
- Quyết định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương đối với các khoản thu được quy định tại Khoản 2 của Điều 35 trong Luật này.
- Quyết định chiến lược đầu tư cho các chương trình mục tiêu quốc gia và dự án quan trọng quốc gia được đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước.
- Quyết định điều chỉnh dự toán ngân sách nhà nước trong trường hợp cần thiết.
- Phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước.
- Giám sát việc thực hiện ngân sách nhà nước, các chính sách cơ bản về tài chính - ngân sách quốc gia, và các nghị quyết của Quốc hội về ngân sách nhà nước.
- Bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao liên quan đến lĩnh vực tài chính - ngân sách nếu chúng vi phạm Hiến pháp, luật và các nghị quyết của Quốc hội.
Dựa trên những quy định trên, Quốc hội sẽ quyết định dự toán ngân sách nhà nước.
3. Ý nghĩa của quyền quyết định ngân sách của Quốc hội
Việc ủy quyền và giám sát cao nhất về ngân sách nhà nước cho Nghị viện/Quốc hội có ý nghĩa là chấm dứt thời kỳ quản trị ngân sách độc đoán của giai cấp thống trị chuyên chế. Trong lịch sử quyền lực nhà nước, trong khi nhánh hành pháp đã tồn tại từ khá sớm, nhánh lập pháp chỉ ra đời khi có nhu cầu khách quan về phân chia quyền lực trong bộ máy nhà nước. Sự can thiệp của Nghị viện/Quốc hội trong hoạt động của ngân sách nhà nước loại bỏ sự mập mờ trong việc quản lý và sử dụng quỹ tiền tệ quốc gia. Điều này là do ngân sách được quản trị bởi nhà nước chuyên chế, không có sự phân chia rõ ràng giữa ngân sách quốc gia và ngân sách của hoàng gia, hoàng tộc. Quản trị quỹ tiền tệ này thường mang dấu ấn của người đứng đầu, điều này có nghĩa là việc đóng thuế của dân chúng có thể xảy ra bất cứ lúc nào mà không cần sự thỏa thuận hay thông tin từ phía nhà nước.
Ở Việt Nam, việc trao quyền "biểu quyết về ngân sách nhà nước" cho Quốc hội phản ánh tầm quan trọng của ngân sách trong việc thiết kế và xây dựng hệ thống các cơ quan nhà nước. Điều này cũng thể hiện rằng, quyền quyết định các vấn đề trọng yếu của quốc gia thuộc về nhân dân Việt Nam, vì Quốc hội là cơ quan đại diện cho toàn bộ nhân dân.
Ngoài ra, việc quyết định và giám sát cao nhất về ngân sách của Quốc hội đảm bảo sự cân bằng và hài hòa trong tổ chức và hoạt động của các nhánh quyền lực trong bộ máy nhà nước. Nhánh lập pháp đóng vai trò tạo ra luật pháp, nhánh hành pháp thực thi luật, và nhánh tư pháp giải quyết các tranh chấp, tạo điều kiện cho sự bình đẳng và ngăn chặn sự lạm quyền của mỗi nhánh quyền lực. Nếu Quốc hội không duy trì quyền biểu quyết và giám sát cao nhất về ngân sách, sẽ không có sự cân bằng về quyền lực, và người dân sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro do chính quyền quay trở lại với chế độ chuyên chế.
Ý nghĩa tiếp theo của việc trao quyền quyết định và giám sát cao nhất về ngân sách cho Quốc hội là người dân có thể gián tiếp biết được các đóng góp của mình vào ngân sách được sử dụng như thế nào và với mục đích gì. Bằng cách được giám sát, người đóng thuế qua các đại biểu dân cử có quyền lựa chọn các chính sách tài chính phù hợp.
Ngân sách nhà nước là một nguồn tài chính quan trọng, hình thành từ các nguồn thuế, phí, lệ phí và các nguồn thu khác, được sử dụng để tài trợ cho các chức năng và hoạt động của Nhà nước. Việc ủy quyền và giám sát cao nhất được trao cho Quốc hội được thể hiện thông qua các quyết định biểu quyết của Quốc hội đối với dự toán, phân bổ và quyết toán ngân sách.
Bài viết liên quan: Ngân sách nhà nước là gì? Đặc điểm của ngân sách nhà nước?
Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê về vấn đề: Nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội với ngân sách nhà nước là gì? Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!