>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự, gọi: 1900.6162

 

1. Cố ý phạm tội

"Cố ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra;Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra."
Theo đó, chương III chủ yếu tập trung làm rõ các thành tố cấu thành tội phạm, như đã phân tích tại khái niệm tội phạm thì lỗi là một trong 4 yếu tố được đưa ra để xem xét đánh giá một hành vi đã xảy ra có phải là tội phạm hay không, nếu có thì mức độ như thế nào. Chính vì vậy mà việc nghiên cứu, phân loại các dạng lỗi đóng vai trò quan trọng trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử. Lỗi được chia ra làm lỗi cố ý và lỗi vô ý.
Ở điều này, các nhà làm luật đưa ra khái niệm về lỗi cố ý cũng như căn cứ để phân loại lỗi cố ý. Lỗi cố ý phạm tội được chia thành nhiều hình thức, nhiều trường hợp khác nhau. Việc phân chia hình thức của lỗi cố ý chỉ có ý nghĩa xác định mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Thông thường được chia làm 02 hình thức là cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp. 
Lỗi cố ý trực tiếp: được xác định dựa trên mức độ nhận thức của người thực hiện hành vi. Trong các loại lỗi thì lỗi cố ý trực tiếp thể hiện sự nhận thức và mức độ quyết tâm cao nhất của người thực hiện. Sự nhận thức được thể hiện dưới ba góc độ khác nhau, thứ nhất đó là nhận thức được mức độ nguy hiểm, nghĩa là người phạm tội nhận diện được hành vi mà mình đang hoặc sắp thực hiện sẽ gây ra nguy hiểm cho xã hội, sự nguy hiểm thể hiện ở chỗ nếu hành vi được thực hiện là nó sẽ xâm phạm đến một đối tượng cụ thể nào đó. Thứ hai nhận thức được hậu quả, người thực hiện hành vi bên cạnh nhận diện được mức độ nguy hiểm thì họ còn thấy được hậu của nó như thế nào, dự liệu được một cách chính xác và đúng đắn những hậu quả mà hành vi mang lại. Và không có việc người thực hiện hành vi sẽ mơ hồ, không xác định được hậu quả là gì, khi trong suy nghĩ người phạm tội nghĩ về một hành vi mà họ sẽ thực hiện thì đồng thời họ cũng đã thấy trước được hậu quả xảy ra, hai vấn đề này tiếp diễn liên tục, liền kề nhau và nhiều trường hợp thậm chí người phạm tội nghĩ đến hậu quả trước và tìm cách thực hiện hành vi tương ứng để hậu quả xảy ra như mong muốn. Thứ ba là nói đến tính quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng của người phạm tội “mong muốn hậu quả đó xảy ra”, sự mong muốn này biểu hiện ra bên ngoài dưới dạng các đặc điểm như: không chấm dứt hành vi, thực hiện hành vi cho đến khi nào hậu quả xảy ra hay nói cách khác hậu quả chính là mục đích cuối cùng. Như vậy trong chuỗi nhận thức của người thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp chính là biểu hiện của ý chí và quyết tâm cao nhất trong các loại lỗi, đi từ suy nghĩ và hiện thực hóa đến hành động.
Ví dụ: A là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự cầm dao và đâm chết B, A thực hiện hành vi đến cùng cho đến khi B chết hẳn thì A mới bỏ đi. Trường hợp này A có đầy đủ nhận thức để biết hành vi của mình là hành vi nguy hiểm và vi phạm pháp luật, A cũng nhận thức được hành vi của  mình sẽ làm chết B và A thực hiện, mong muốn hậu quả trên xảy ra.
Lỗi cố ý gián tiếp: sự khác biệt cơ bản giữa lỗi cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp được thể hiện ở khía cạnh tâm lý người phạm tội. Hai loại lỗi này các chủ thể đều nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi, đều nhận thức được hậu quả mà hành vi mang lại. Tuy nhiên với lỗi cố ý gián tiếp thì cần phải khẳng định, người phạm tội không hề mong muốn hậu quả đó xảy ra trên thực tế hay nói cách khác hậu quả không nằm trong kế hoạch hành động của họ. Việc hậu quả có xảy ra hay không không phải là đích đến cuối cùng. Sự bỏ mặc thể hiển ở việc người phạm tội không quan tâm, hậu quả xảy ra cũng được hoặc không xảy ra cũng được. Mục đích của người phạm tội đã có thể đạt được ở giai đoạn trước đó hoặc thực hiện hành vi nhưng lại hướng đến một mục đích khác. Ví dụ: A và B vì mâu thuẫn nên đánh nhau, A đánh B bị thương, thấy B bị chém vào chân mất nhiều máu, không thể di chuyển được A bỏ về. Vì đoạn đường vắng, mất quá nhiều máu sau đó B tử  vong.
Như vậy, để phân biệt cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp, cần dựa vào mặt ý thức của người thực hiện hành vi đối với hậu quả mà hành vi đó gây ra. Nếu mong muốn hậu quả xảy ra thì là cố ý trực tiếp, nếu không mong muốn hậu quả xảy ra thì đó là cố ý gián tiếp. Tuy nhiên khi xem xét, nghiên cứu về lỗi cố ý, nhiều quan điểm cho rằng việc phân loại lỗi cố ý thành lỗi cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp là không cần thiết. Bởi lẽ một người khi họ đã nhận thức được một cách đầy đủ về tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi và thấy trước hậu quả xảy ra mà vẫn thực hiện thì cho dù họ có mong muốn hay không mong muốn thì hậu quả cũng đã xảy ra trên thực tế. Việc nhận thức đầy đủ nhưng vẫn thực hiện hành vi đã chứng tỏ một quyết tâm và ý chí của người phạm tội. Pháp luật hình sự nghiêm cấm các chủ thể xâm phạm đến các mối quan hệ được quy định trong bộ luật này, do vậy việc không hành động hoặc hành động để tránh xâm hại và bảo vệ các mối quan hệ đó là nghĩa vụ của mỗi cá nhân, tổ chức. Chính vì vậy, việc cho rằng không mong muốn hậu quả xảy ra trong khi đã nhận thức và dự liệu một cách chính xác hậu quả mà vẫn thực hiện hành vi là hoàn toàn không có cơ sở.
Ngoài ra, khoa học hình sự, khi nghiên cứu lỗi cố ý, còn chia ra nhiều hình thức khác nhau. Các hình thức đó là: Cố ý có dự mưu và cố ý đột xuất; cố ý xác định và cố ý không xác định. Cố ý có dự mưu là trường hợp trước khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, người có hành vi đó đã suy nghĩ, tính toán cẩn thận mới bắt tay vào làm. Cố ý đột xuất là trường hợp một người vừa có ý định phạm tội đã thực hiện ngay ý định đó. Cố ý xác định là trường hợp trước khi thực hiện hành vi nguy hiểm xã hội, người có hành vi xác định được hậu quả mà hành vi đó gây ra. Cố ý không xác định là trường hợp trước khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, người có hành vi không hình dung chính xác hậu quả xảy ra như thế nào.
 

2. Vô ý phạm tội

Theo điều 11 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 thì vô ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được; Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.
Nếu cố ý phạm tội được chia làm cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp thì tương tự như vậy khoa học hình sự chia vô ý phạm tội thành 02 trường hợp chủ yếu là vô ý vì quá tự tin và vô ý vì cẩu thả.
 

2.1 Vô ý phạm tội do quá tự tin

Biểu hiện: Người phạm tội nhận thức và dự liệu được hậu quả do hành vi của mình gây ra có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng xét về mặt ý chí lại cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc nếu xảy ra thì có biện pháp ngăn ngừa được. Tuy nhiên cần phân tích rõ mức độ nhận thức hậu quả của người thực hiện hành vi. Nếu xem xét lại các lỗi về cố ý thì việc nhận thức và xác định, dự liệu hậu quả là điều tất yếu, hiển nhiên, pháp luật hình sự buộc người phạm tội phải nhận thức rõ vấn đề này. Hậu quả xảy ra nếu thực hiện hành vi là một điều chắc chắn, còn đối với lỗi vô ý do quá tự tin thì hậu quả có thể xảy ra hoặc không xảy ra trên thực tế. Người phạm tội nhận thức được hành vi mà mình đang hoặc sắp thực hiện có thể dẫn đến một hậu quả nào đó nhưng lại cho rằng hậu quả đó không có cơ sở để xảy ra hoặc nếu xảy ra sẽ được ngăn chặn một cách ngay lập tức. Trong ý chí khi thực hiện hành vi, người phạm tội hoàn toàn không mong muốn hậu quả xảy ra hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra như biểu hiện của trường hợp phạm tội cố ý gián tiếp nhưng trong nhận thức, người phạm tội tự tin ngăn chặn được hậu quả, tuy nhiên sự tự tin không tương đồng với thực tế, không giải quyết được vấn đề.
Ví dụ: Một người đi săn trong rừng nhìn thấy một con lợn rừng đang đào măng để ăn, gần đó cũng có một người đang hái măng. Người đi săn giương súng bắn con lợn vì anh ta tin rằng với tài nghệ bắn súng của mình thì không thể có chuyện đạn lạc sang người hái măng được. Tuy nhiên, súng nổ lại trúng người hái măng chứ không trúng con lợn.
 

2.2 Vô ý phạm tội do cẩu thả

Biểu hiện: Xét về mặt nhận thức thì người phạm tội hoàn toàn không thấy được hậu quả do hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội mặc dù pháp luật buộc người phạm tội phải thấy trước được điều đó. Việc đánh giá khả năng thấy trước hậu quả cũng cần phải xem xét trên nhiều khía cạnh và yếu tố khác nhau, cụ thể dựa vào chính khả năng của người phạm tội như trình độ nhận thức, trình độ văn hóa, lứa tuổi, kinh nghiệm sống, tay nghề...; dựa vào hoàn cảnh khách quan về không gian, thời gian, vị trí địa lý... lúc xảy ra sự việc. Việc buộc chủ thể thực hiện hành vi phạm tội phải thấy trước được hậu quả chỉ có thể áp dụng đối với những mối quan hệ chung, phổ biến mà ở đó đã hình thành một quy tắc xử sự, ai cũng phải tuân theo. Ví dụ: Bác sĩ tiêm nhầm thuốc cho bệnh nhân và hậu quả là bệnh nhân chết. Trong trường hợp này chính sự cẩu thả của bác sĩ đã dẫn đến hậu quả là cái chết của bệnh nhân, trong quy tắc xử sự hành nghề y buộc bác sĩ phải là một người cẩn trọng trong việc sử dụng các loại thuốc và đồng thời họ cũng phải nhận thức được hậu quả sẽ như thế nào nếu có sự nhầm lẫn, sử dụng không chính xác.
Trên thực tế, có nhiều trường hợp xác định nhầm giữa cố ý gián tiếp và vô ý do quá tự tin vì trường hợp này người phạm tội đều nhận thức được hành vi của mình có thể gây ra nguy hại cho xã hội và đều không mong muốn hậu quả đó xảy ra. Tuy nhiên cần phải hiểu rằng, lỗi cố ý gián tiếp, người thực hiện hành vi vì chấp nhận khả năng hậu quả xảy ra khi lựa chọn và thực hiện hành vi. Còn vô ý vì quá tự tin, người thực hiện hành vi loại trừ khả năng hậu quả xảy ra và tin rằng hậu quả sẽ không xảy ra.
 

3. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Theo điều 12 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 thì người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.
Vấn đề năng lực trách nhiệm hình sự chỉ được đặt ra khi cá nhân đạt đến một độ tuổi nhất định (trừ trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình sự). Để quy định độ tuổi chịu TNHS, ở Việt Nam các nhà lập pháp căn cứ vào bốn tiêu chí: đặc điểm tâm sinh lý, thể chất và khả năng nhận thức của lứa tuổi chưa thành niên; điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và chính sách, đường lối xử lý tội phạm do người chưa thành niên thực hiện; tổng kết thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và phòng, chống tội phạm do người chưa thành niên thực hiện ở nước ta nói riêng; các quy định về độ tuổi chịu TNHS của các nước trên thế giới.
Xuất phát từ thực tiễn xét xử và quá trình trẻ hóa tội phạm ngày càng nhiều trong suốt thời gian qua mà quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự hiện nay có thay đổi rõ nét, tiến bộ hơn so với quy định trong Bộ luật hình sự 99. BLHS 99 chỉ xem xét TNHS đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Nhằm bảo đảm tính nhất quán trong chính sách hình sự, phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em mà Việt Nam là thành viên, xuất phát từ chính sách nhân đạo và yêu cầu phòng, chống tội phạm của người chưa thành niên, BLHS 2015 đã được sửa đổi, bổ sung theo hướng chỉ xem xét TNHS của người từ đủ 14 tuổi dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Việc quy định độ tuổi theo BLHS hiện hành là hoàn toàn phù hợp với pháp luật quốc tế. Bên cạnh đó, việc quy định độ tuổi như vậy cũng thể hiện chính sách hướng thiện đối với trẻ em theo hướng bảo đảm lợi ích tốt nhất cho các em trên tinh thần bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong lứa tuổi thanh thiếu niên, đồng thời, góp phần nâng cao tính minh bạch của BLHS, qua đó nâng cao tính giáo dục, phòng ngừa tội phạm đối với các em ở độ tuổi này.
Kế thừa đồng thời khắc phục những hạn chế của BLHS 99, BLHS 2015 chỉ rõ hơn những tội phạm cụ thể mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS, theo đó, các em chỉ phải chịu TNHS về việc thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (nghĩa là trong tội danh đó sẽ có khoản có khung hình phạt cao nhất phải từ trên 07 năm tù trở lên) ở 28 tội danh trong số 314 tội danh, bao gồm: Tội giết người (Điều 123); Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134); Tội hiếp dâm (Điều 141); Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142); Tội cưỡng dâm (Điều 143); Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 144); Tội mua bán người (Điều 150); Tội mua bán người dưới 16 tuổi (Điều 151); Tội cướp tài sản (Điều 168); Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169); Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170); Tội cướp giật tài sản (Điều 171); Tội trộm cắp tài sản (Điều 173); Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 178); Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248); Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249); Tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250); Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251); Tội chiếm đoạt chất ma túy (Điều 252); Tội tổ chức đua xe trái phép (Điều 265); Tội đua xe trái phép (Điều 266); Tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử (Điều 286); Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử (Điều 287); Tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác (Điều 289); Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 290); Tội khủng bố (Điều 299); Tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 303); Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quận sự (Điều 304). Ngoài các tội phạm được liệt kê nêu trên thì nhóm đối tượng này khi thực hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng đối với các loại tội phạm khác thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Ngoài ra, BLHS 2015 cũng sửa đổi phạm vi chịu trách nhiệm của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội theo hướng thu hẹp hơn. Theo quy định của BLHS năm 99, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS về việc chuẩn bị phạm tội nếu tội phạm mà họ chuẩn bị thực hiện là tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc mọi tội danh; nay theo BLHS 2015, họ chỉ phải chịu TNHS nếu chuẩn bị phạm tội thuộc một trong hai tội danh đó là: Giết người (Điều 123) và cướp tài sản (Điều 168).
Đối với người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm. Thực tiễn cho thấy, những người đủ 16 tuổi là lứa tuổi phổ biến nhất có những hành vi nguy hiểm cho xã hội. Họ thực hiện hành vi phạm tội một cách độc lập, tự chủ và tự quyết. Vì vậy, theo quy định của BLHS 2015 về độ tuổi chịu TNHS thì người từ đủ 16 tuổi trở lên sẽ chịu TNHS đối với mọi loại tội phạm, ngoại trừ các loại tội phạm mà yêu cầu về chủ thể để cấu thành tội phạm là người từ đủ 18 tuổi trở lên.
Như vậy, tuổi chịu trách nhiệm hình sự được khái quát như sau:
- Từ đủ 16 tuổi trở lên: chịu trách nhiệm hình sự mọi loại tội phạm.
- Từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi:
+ Tội ít nghiêm trọng: Không chịu trách nhiệm hình sự.
+ Tội nghiêm trọng: Không chịu trách nhiệm hình sự.
+ Tội rất nghiêm trọng: Trong phạm vi các tội phạm được quy định nêu trên.
+ Tội đặc biệt nghiêm trọng: Trong phạm vi các tội phạm được quy định nêu trên.
 

4. Phạm tội do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác

Người phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.
Điều 13 Bộ Luật hình sự 2015 đã sửa tên của điều luật từ: “Phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác” (Điều 14 BLHS năm 99) thành “Phạm tội do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác”. Việc sửa đổi này đảm bảo tính chính xác của luật bởi khái niệm “tình trạng say” là không rõ ràng hơn nữa không chỉ khi bị say người ta mới bị hạn chế hoặc mất khả năng nhận thức hoặc mất khả năng điều khiển hành vi của mình. Đồng thời luật cũng quy định mất khả năng nhận thức hoặc mất khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự. Việc quy định người mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác phải chịu trách nhiệm hình sự được lý giải với nhiều ý kiến khác nhau. Nhưng điểm chung đều thống nhất là người đó có lỗi đối với tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình (do chủ quan) chứ không phải (do khách quan) là bị mắc bệnh tâm thần hay một bệnh khác theo quy định tại Điều 21 BLHS năm 2015. Trên thực tế những người này là những người có năng lực trách nhiệm hình sự, việc mất năng lực, hạn chế năng lực do sử dụng bia, rượu, chất kích thích là do họ tự đặt mình vào trong trường hợp đấy. Người phạm tội hoàn toàn ý thức được điều này.
Đối với trường hợp không có lỗi đối với việc dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác như say rượu bệnh lý hoặc do bị mắc lừa mà dùng nhầm chất kích thích mạnh (ma túy) hay bị cưỡng bức, ép buộc dùng rượu, bia, ma túy mà rơi vào tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì chủ thể không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện trong tình trạng đó.
Phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác không những phải chịu trách nhiệm hình sự mà trong trường hợp nhất định phải chịu trách nhiệm hình sự nặng hơn so với trường hợp bình thường. Đó là những trường hợp khi thực hiện một số công việc do tính chất đặc biệt, luật cấm người thực hiện công việc đó sử dụng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác như việc điều khiển ô tô, tàu thủy, tàu bay, tàu hỏa. Cụ thể là trong một số tội của BLHS năm 2015 như: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Điều 260); Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường sắt (Điều 267); Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thuỷ (Điều 272) việc phạm tội trong tình trạng hạn chế, mất năng lực hành vi do “sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hợi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kich thích mạnh khác” được xem là tình tiết tăng nặng.
Quy định tại Điều 13 BLHS mang tính giáo dục cao cũng như nhằm ngăn chặn, răn đe các đối tượng lợi dụng việc sử dụng rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác để thực hiện hành vi phạm tội.