Trả lời:
Các tội phạm về ma túy trong Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 so với quy định trong Bộ luật Hình sự năm 1999 có một số nội dung mới sau:
Thứ nhất, Chương các tội phạm về ma túy trong Bộ luật hình sự năm 2015 đã lượng hóa nhiều tình tiết định tính trong Chương XVIII của Bộ luật hình sự năm 1999 như: “Nhiều người” thành “02 người trở lên”, “Nhiều lần” thành “02 lần trở lên”, các cụm từ “Gây hậu quả nghiêm trọng”, “Gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” được thay thế bằng các quy định cụ thể trong Chương XX của Bộ luật hình sự năm 2015. Cụm từ “trẻ em” được thay thế bằng cụm từ “dưới 16 tuổi”, “người chưa thành niên” được thay thế bằng “người dưổi 18 tuổi”.
Bộ luật hình sự năm 2015 tại Chương các tội phạm về ma túy cũng đã bổ sung cụm từ “thể tích” để quy định ma túy dạng lỏng, đồng thời thay thế cụm từ: “trọng lượng” bằng cụm từ “khối lượng”, cho thống nhất với quy định của pháp luật về đo lường, cụ thể Luật Đo lường quy định, đơn vị đo khối lượng là kilôgam, ký hiệu là kg. Trong Bộ luật hình sự năm 2015 đã sử dụng đơn vị đo là g và kg với ma túy thể rắn và sử dụng cụm từ “khối lượng” là chính xác đáp ứng sự đồng bộ của cả hệ thống pháp luật.
Thứ hai, sửa đổi, bổ sung theo hướng chia tách một số tội phạm thành nhiều tội phạm độc lập khác. Trong Bộ luật hình sự năm 2015 Chương các tội phạm về ma túy giữ nguyên tên chương, được quy định tại Chương XX (trong Bộ luật hình sự năm 1999 quy định tại chương XVIII), bao gồm 13 điều luật từ Điều 247 đến Điều 259, tăng 03 điều so với Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009, sự tăng lên là do sự chia tách 02 tội phạm quy định tại Điều 194 và Điều 200 Bộ luật hình sự năm 1999 thành nhiều tội phạm độc lập khác nhau.
Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999 tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy được tách thành 04 điều độc lập bao gồm:
(1) Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015);
(2) Tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250 Bộ luật hình sự năm 2015);
(3) Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015);
(4) Tội chiếm đoạt trái phép chất ma túy (Điều 252 Bộ luật hình sự năm 2015).
Đối với các hành vi trong tội phạm quy định tại Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, các hành vi thường có sự liên quan chặt chẽ với nhau, hành vi phạm tội này là điều kiện để thực hiện hoặc là hệ quả tất yếu của hành vi phạm tội khác nên Bộ luật hình sự năm 1999 đã gộp cả 04 hành vi từ điều 185a đến điều 185d, Bộ luật hình sự năm 1985 (sửa đổi, bổ sung năm 1997) thành một điều luật, Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999. Quá trình áp dụng vào thực tiễn công tác phòng ngừa, đấu tranh và chống tội phạm cho thấy, tính chất của các hành vi quy định tại điều luật này là không giống nhau. Rõ ràng rằng, nếu so với hành vi tàng trữ, vận chuyển trái phép hay chiếm đoạt chất ma túy có tính chất, mức độ nguy hiểm thấp hơn so với hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Mặt khác nếu người nào có hành vi tàng trữ, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy mà nhằm mục đích bán trái phép cho người khác thì cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy. Chính vì vậy, Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 được tách thành 04 điều luật như đã nêu trên.
Bên cạnh đó, tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại Điều 200 Bộ luật hình sự năm 1999 được tách thành 2 điều luật riêng: Tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 257 Bộ luật hình sự năm 2015) và tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 258 Bộ luật hình sự năm 2015).
Xét về dấu hiệu pháp lý trong khoa học luật hình sự, hai hành vi cưỡng bức và lôi kéo có tính chất tương đối độc lập và cũng không giống nhau, tính chất mức độ của hành vi cưỡng bức cao hơn so với hành vi lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy. Việc tách thành hai điều luật độc lập là phù hợp, cần thiết cho áp dụng trong thực tiễn công tác phòng ngừa, đấu tranh và chống tội phạm, thể hiện được rõ ràng hơn về phân hóa trách nhiệm hình sự cũng như quyết định hình phạt được chính xác.
Thứ ba, Bộ luật hình sự năm 2015 mô tả rõ hành vi khách quan của một số" tội phạm về ma túy. Để kịp thời giải quyết những vướng mắc trong quá trình áp dụng các quy định Bộ luật hình sự năm 1999 Chương các tội phạm về ma túy, đồng thời tăng cường tính minh bạch, nhất quán theo định hướng chỉ đạo xây dựng Bộ luật hình sự năm 2015, Chương các tội phạm về ma túy đã sửa đổi, bổ sung rõ ràng dấu hiệu pháp lý của một số tội phạm, cụ thể:
- Tội trồng cây thuốc phiện, cây cô ca, cân cần sa hoặc cây khác chứa chất ma túy (Điều 247 Bộ luật hình sự năm 2015): Tội danh này được bổ sung cụm từ “cây cô ca” vào tên điều luật, về dấu hiệu pháp lý, nếu như trong hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT thì để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này là một vấn đề hết sức khó khăn khi phải thỏa mãn cả ba điều kiện: Đã được giáo dục nhiều lần, đã được tạo điều kiện để ổn định cuộc sống và đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. Trong Bộ luật hình sự năm 2015, tại Khoản 1, Điều 247 quy định: Người nào trồng cây thuốc phiện, cây cô ca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túythuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: Đã được giáo dục 02 lần và đã được tạo điều kiện ổn định cuộc sống; Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Với số lượng từ 500 cây đến dưới 3.000 cây.
Điều luật đã tách 3 điều kiện thành 02 trường hợp để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi trồng cây thuốc phiện, cây cô ca, cây cần sa hoặc loại cây khác chứa chất ma túy. Bên cạnh đó, điều luật bổ sung thêm một nội dung, có thể truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp trồng cây thuốc phiện, cây cô ca, cây cần sa hoặc cây khác chứa chất ma túy mà số lượng cây từ 500 cây trở lên mà không cần các điều kiện khác. Như vậy, điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm quy định tại Điều 247 là phù hợp hợp hơn so với quy định trong Bộ luật hình sự năm 1999, tạo điều kiện để các cơ quan tiến hành tố tụng có thể đấu tranh phòng chông với loại tội phạm này, từ đó có thể triệt tiêu nguồn của ma túy, đây là một mô hình lý thuyết được vận dụng nhiều trên thê giới và đạt hiệu quả cao.
- Đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015), Bộ luật hình sự năm 2015 quy định rõ là tàng trữ mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy. Như vậy, nếu thuộc một trong các trường hợp trên người thực hiện hành vi sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo các điều luật tương ứng. Cũng tương tự như vậy, tội vận chuyển trái phép chất ma túy phải là hành vi vận chuyển trái phép mà không nhằm mục đích sản xuất, mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy, nếu không sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội phạm khác. Bộ luật hình sự năm 2015 quy định rõ điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tội vận chuyển trái phép chất ma túy ngay tại Khoản 1 của các điều 249, 250 của Bộ luật hình sự năm 2015.
- Đối với tội cưỡng bức người khác sử dụng chất ma túy, Điều 257 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định rõ cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy là dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần của người khác để buộc họ phải sử dụng trái phép chất ma túy trái với ý muốn của họ mà không chỉ quy định dưổi dạng giản đơn như trong Bộ luật hình sự năm 1999. Cũng tương tự, tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy, Điều 258 Bộ luật hình sự năm 2015 được quy định là hành vi rủ rê, dụ dỗ, xúi giục hoặc bằng các thủ đoạn khác nhằm lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy.
Thứ tư, bỏ hình phạt tử hình đối với hai hành vi tàng trữ trái phép và chiếm đoạt chất ma túy. Xuất phát từ tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm cũng như đặc điểm nhân thân của người phạm tội; yêu cầu bảo vệ khách thể bị xâm hại và yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng như khả năng trấn áp tội phạm bằng các biện pháp ngoài tử hình, trên cơ sở cân nhắc thực tiễn áp dụng hình phạt tử hình, tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của một số nước cho thấy hình phạt tử hình chỉ nên áp dụng đối với một số tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc loại tội chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam, xâm phạm tính mạng con người; tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật hình sự quy định. Trên tinh thần đó, Bộ luật hình sự năm 2015 đã bỏ hình phạt tử hình tại 08 tội danh quy định tại 07 điều luật, đồng thời, bỏ tội danh hoạt động phỉ có quy định hình phạt tử hình trong Bộ luật hình sự năm 1999. Trong Chương XX, các tội phạm về ma túy đã bỏ hình phạt tử hình đối với hai tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015), tội chiếm đoạt chất ma túy (Điều 252 Bộ luật hình sự năm 2015) và giữ lại hình phạt tử hình đối với tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250 Bộ luật hình sự năm 2015), tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015). Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hai hành vi tàng trữ trái phép và chiếm đoạt chất ma túy thấp hơn so với hành vi vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy.
Thứ năm, bổ sung một số chất ma túy trong các tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự của các tội phạm về ma túy. về danh mục các chất ma túy được hướng dẫn tại Nghị định Số 82/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ ban hành các danh mục các chất ma túy và tiền chất, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 126/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung danh mục các chất ma túy và tiền chất ma túy ngày 09 tháng 12 năm 2015 của Chính phủ. Trong thời gian qua, với người sử dụng ma túy có xu hướng dịch chuyển từ ma túy dạng truyền thống sang các dạng ma túy khác mà tiêu biểu trong đó là ma túy tổng hợp hay một số chất ma túy mối khác, nhằm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ để xử lý các hành vi phạm tội về ma túy, tăng cường hiệu quả đấu tranh phòng, chông loại tội phạm này, Bộ luật đã bổ sung các chất ma túy phổ biến là Methamphetamine, Amphetamine, MDMA, XLR-11, lá khát (lá cây Catha edulis) vào các tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự.
>> Xem thêm: Tội phạm về ma túy là gì? Quy định pháp luật về tội phạm ma túy