1. Khái niệm về Luật xây dựng

Xây dựng là một quy trình thiết kế và thi công nên các cơ sở hạ tầng hoặc công trình, nhà ở. Hoạt động xây dựng khác với hoạt động sản xuất ở chỗ sản xuất tạo một lượng lớn sản phẩm với những chi tiết giống nhau, còn xây dựng nhắm tới những sản phẩm tại những địa điểm dành cho từng đối tượng khách hàng riêng biệt.

Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế. Công trình xây dựng bao gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình khác.

Luật xây dựng - danh từ, trong tiếng Anh được dùng bởi cụm từ Law on Construction.

Luật xây dựng là một nhánh của pháp luật kinh tế, bao gồm tổng thể các qui phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm tác động và điều chỉnh các hoạt động của pháp nhân kinh tế và các quan hệ kinh tế, xã hội, kĩ thuật và mĩ thuật phát sinh trong quá trình đầu tư và xây dựng nhằm đảm bảo cho các hoạt động sản xuất kinh doanh xây dựng tiến hành có hiệu quả đúng pháp luật và thực hiện được các mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nước đặt ra.

2. Đối tượng điều chỉnh của luật xây dựng

Quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất – kinh doanh giữa các doanh nghiệp

Đó là quan hệ sản xuất và trao đổi hàng hoá của những pháp nhân kinh tế, diễn ra trên thị trường đầu tư và xây dựng. 

Các mối quan hệ này rất đa dạng và phong phú, song tập trung chủ yếu vào các quan hệ kinh tế có liên quan đến các hoạt động qui hoạch, khảo sát, thiết kế, tư vấn, đấu thầu, chọn thầu, xây lắp công trình, mua, bán, sản phẩm hàng hoá cung ứng dịch vụ, quan hệ tài chính, tiền tệ, tài sản…

Các quan hệ này nảy sinh và được giải quyết chủ yếu thông qua các hợp đồng kinh tế giữa các chủ thể kinh tế như: các chủ đầu tư, các công ty tư vấn, công ty xây dựng, tổ chức cung ứng, sản xuất vật liệu, cấu kiện xây dựng và thiết bị công nghệ...

Riêng các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất – kinh doanh giữa các doanh nghiệp nhà nước nhằm thực hiện chỉ tiêu pháp lệnh của Nhà nước thì yếu tố tổ chức – kế hoạch, yếu tố nhiệm vụ – nghĩa vụ chi phối mạnh hơn yếu tố sở nguyện của các chủ thể.

- Các nội dung cơ bản luật xây dựng hiện nay

Các nội dung cơ bản hay mục lục luật xây dựng mới nhất hiện nay đang điều chỉnh các vấn đề sau:

Thứ nhất, xác định các nội dung, đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của luật xây dựng

Thứ hai, quy định về các vấn đề quy hoạch xây dựng, quản lý hoạt động xây dựng như: pháp luật xây dựng quy hoạch đô thị, nông thôn, chức năng đặc thù, trách nhiệm, thẩm quyền quy hoạch…

Thứ ba, quy định các nội dung liên quan đến quản lý, thực hiện dự án đầu tư xây dựng bao gồm:

  • Nguyên tắc và hình thức quản lý
  • Thẩm định
  • Thẩm quyền
  • Điều chỉnh dự án

Thứ tư, các quy định về giấy phép xây dựng đối với nhà ở khu đô thị, luật xây dựng nhà ở nông thôn, biệt thự, khách sạn, sửa chữa nhà ở… bao gồm các trường hợp được miễn và trường hợp bắt buộc phải xin cấp giấy phép trước khi khởi công…

Quy định rõ trình tự, thủ tục, trách nhiệm của các cơ quan liên quan đối với việc cấp giấy phép xây dựng từ điều kiện, hồ sơ, thẩm quyền, cấp mới, điều chỉnh, gia hạn giấy phép...

Thứ năm, nội dung về quy định các hoạt động như nghiệm thu, kiểm tra, bàn giao công trình và các quy định về bảo hiểm xây dựng.

Thứ sáu, các nội dung được đề cập bao gồm: hợp đồng xây dựng, chi phí đầu tư, quy trình thanh toán, quyết toán công trình.

Thứ bảy, nội dung về phân hạng năng lực hoạt động xây dựng để xác định được tổ chức hoạt động xây dựng nào sẽ phù hợp nhất với từng loại công trình.

Ngoài ra, luật xây dựng mới nhất còn đề cập tới các nội dung như cách thức chuyển giao dịch vụ công, giám sát cộng đồng đối với hoạt động xây dựng, hợp tác quốc tế trong xây dựng, tiêu chuẩn của công trường xây dựng, thi công, bàn giao công trình xây dựng…

3. Khái niệm về đánh giá tác động môi trường

Môi trường chính là không gian sống của con người và các loài sinh vật. Đây chính là nơi cung cấp những tài nguyên thiên nhiên như rừng, khoáng sản, động thực vật quý hiếm,… và những yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mặt thiết với nhau, phục vụ, ảnh hưởng tới đời sống, quá trình tồn tại và phát triển của cuộc sống của con người. Nhưng đây cũng chính là nơi chứa những chất thải mà con người tạo ra.

Đánh giá tác động môi trường là việc phân tích, dự báo tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án đó.

Theo quy định tại Luật Bảo vệ Môi trường 2019, việc đánh giá tác động môi trường phải thực hiện trong giai đoạn chuẩn bị dự án (Khoản 1 Điều 31).

Lập báo cáo đánh giá tác động môi trường ĐTM  là cơ sở để doanh nghiệp biết rõ hơn về tình trạng chất lượng môi trường của doanh nghiệp. Để từ đó có thể đề ra những biện pháp giảm thiểu ô nhiễm hiệu quả, nhằm đạt các Tiêu chuẩn môi trường theo quy định. Đồng thời, kết quả giám sát chất lượng môi trường sẽ là cơ sở để cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường đánh giá về công tác bảo vệ môi trường của Công ty.

4. Các đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường ĐTM

Các đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường được quy định tại Phụ lục II Nghị định số 18/2015/NĐ-CP. Bao gồm các nhóm dự án về xây dựng, sản xuất vật liệu xây dựng, dự án về giao thông, dự án về điện tử, năng lượng, phóng xạ; Dự án liên quan đến thủy lợi, khai thác rừng, trồng trọt; Dự án thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản; Dự án về dầu khí ; Dự án xử lý, tái chế chất thải; Dự án về cơ khí, luyện kim; Các dự án chế biến gỗ, sản xuất thủy tinh, gốm sứ,….

 Các dự án cải tạo, mở rộng, nâng cấp, nâng công suất của cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ đang hoạt động đã được phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc đăng ký, xác nhận bản cam kết bảo vệ môi trường hoặc phê duyệt, xác nhận đề án bảo vệ môi trường tới mức tương đương với các đối tượng đã nêu trên.

 Các dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

 Những dự án sử dụng đất của khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, khu du tích lịch sử, khu di sản,….

 Và trong quá trình thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường ĐTM, chủ đầu tư dự án phải tiến hành tham vấn UBND cấp xã, phường, thị trấn, nơi thực hiện dự án. Tham vấn các tổ chức, cộng đồng dân cư chịu tác động trực tiếp bởi dự án.

Với những doanh nghiệp đã đi vào hoạt động mà chưa lập báo cáo đánh giá tác động môi trường thì phải tiến hành bổ sung ngay đề án bảo vệ môi trường chi tiết để tránh vi phạm pháp luật.

Bên cạnh đó, Khoản 11,  Điều 1 Luật Xây dựng 2020 đã bổ sung quy định đánh giá sơ bộ tác động môi trường khi lập dự án đầu tư xây dựng. Những loại dự án phải đánh giá sơ bộ tác động môi trường gồm:

- Dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A sử dụng vốn đầu tư công.

- Dự án PPP theo quy định của pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư.

- Dự án thuộc thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ theo quy định của Luật Đầu tư.

5. Vai trò và ý nghĩa trong việc lập báo cáo đánh giá tác động môi trường ĐTM

- Thực hiện yêu cầu của luật bảo vệ môi trường (BVMT) Việt Nam.

- Là một nội dung của dự án tiền khả thi của dự án phát triển.Thiếu ĐTM, dự án sẽ không được phê duyệt.

- Vai trò lập báo cáo đánh giá tác động môi trường ĐTM

+ Là công cụ quản lý môi trường có tính chất phòng ngừa.

+ Giúp chọn phương án tốt để khi thực hiện dự án phát triển ít gây tác động tiêu cực đến môi trường.

+ Giúp nhà quản lý nâng cao chất lượng của việc đưa ra quyết định.

+ Là cơ sở để đối chiếu khi có thanh tra môi trường.

+ Góp phần cho phát triển bền vững.

- Ý nghĩa khi lập báo cáo đánh giá tác động môi trường ĐTM

+ Khuyến khích quy hoạch tốt hơn.

+ Tiết kiệm thời gian và tiền trong phát triển lâu dài.

+ Giúp Nhà nước, các cơ sở và cộng đồng có mối liên hệ chặt chẽ hơn.o cáo đánh giá tác động môi trường ĐTM:

6. Thẩm định, phê duyệt và lập lại báo cáo đánh giá tác động môi trường

6.1. Lập lại báo cáo đánh giá tác động môi trường

Quy định tại điều 15 NĐ 18/2015/NĐCP cần lập lại ĐTM trong các trường hợp:

- Không triển khai dự án trong 24 tháng từ thời điểm quyết định phê duyệt ĐTM

- Thay đổi địa điểm thực hiện dự án

- Bổ sung hạng mục đầu tư có quy mô, công suất tương đương với các dự án thuộc phụ lục II NĐ 18/2015/NĐ-CP.

- Có thay đổi quy mô, công suất hoặc những thay đổi khác dẫn đến các công trình bảo vệ môi trường không có khả năng giải quyết được các vấn đề môi trường gia tăng.

- Theo đề nghị của chủ dự án.

6.2. Thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường

Theo khoản 1 điều 14 của nghị định số 18/2015/NĐ-CP quy định, thẩm quyền tổ chức thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường quy định như sau:

  1. Bộ tài nguyên và Môi trườngtổ chức thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường các dự án quy định tại phụ lục III nghị định này, thường là dự án có quy mô lớn hoặc dự án nằm trên địa bàn 2 tỉnh trờ lên hoặc không xác định được trách nhiệm quản lý hành chính của UBND cấp tỉnh.
  2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án đầu tư trên địa bàn của mình, trừ các dự án thuộc thẩm quyền của Bộ TNMT, các bộ và cơ quan ngang Bộ.

Việc thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường được thực hiện thông qua hội đồng thẩm định do người đứng đầu cơ quan được giao nhiệm vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường thành lập với ít nhất 7 thành viên.