Trả lời:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự 2015

Bộ Luật Hình sự 1999 (Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009); Bộ luật hình sự năm 2015 (Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Nghị định 46/2016/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính giao thông đường bộ đường sắt

2. Luật sư tư vấn: 

Chồng em lái xe trong tinh trạng say và không đội mũ bảo hiểm nhưng lại bị xe khác đi ngược chiều chạy lấn sang làn đường bên kia và do xử lý không kip, hai xe đụng vào nhau nhưng chồng em chạy đúng đường nên cả 2 đều bị thương nghiêm trọng. Nếu như vậy thì xử lý như thế nào?

Chồng quý khách tham gia giao thông nhưng không đội mũ bảo hiểm là vi phạm quy định an toàn giao thông, hành vi này sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng theo quy định tại điểm i khoản 3 Điều 6 Nghị định số 46/2016/NĐ - CP như sau:

"Điều 6. Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm quy tắc giao thông đường bộ
3. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
i) Người điều khiển, người ngồi trên xe không đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” hoặc đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” không cài quai đúng quy cách khi tham gia giao thông trên đường bộ"

Tai nạn giao thông giữa chồng quý khách và người kia nguyên nhân là do người đó đi ngược chiều lấn sang làn đường, chồng quý khách không có hành vi vi phạm dẫn đến hậu quả của tai nạn nên đối với tai nạn này, người kia sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính và buộc phải bồi thường cho chồng quý khách nếu có thương tích hay hư hỏng tài sản theo quy định bồi thường thiệt hại trong Bộ Luật Dân sự năm 2015. Đối với thương tích của người đó, chồng quý khách không phải bồi thường vì nguyên nhân gây ra thương tích cho người đó là hoàn toàn do lỗi của người đó.

Chào luật sư. Tôi là người điều khiển ôtô đang đi phần đường bên mình thì có hai xe máy đi ngược chiều và chiếc sau vượt xe phía trước đột ngột và với tốc độ nhanh và tông vào lốp trước bên trái xe tôi, quá bất ngờ tôi chỉ biết đạp phanh gấp và xe tôi trượt về bên kia đường và dừng lại, tôi mở cửa xe chạy lại người lái xe máy và tôi thấy chân anh ta bị dập và gãy, tôi vội tháo dây nịt buộc trên bắp đùi lại và tôi gọi taxi để đưa đi cấp cứu, trong quá trình đi cấp cứu thì anh ta nồng nặc mùi rượu, tôi có gọi cho người nhà anh ta đến bệnh viện và tôi vào công an trình báo.Tôi gọi người thân đến bệnh viện để hỏi thăm và người nhà có đưa tiền cho người nhà anh ta để đóng viện phí. Sau đó tôi ra bệnh viện thăm và hỗ trợ tiền cho anh ta bồi dưỡng và người nhà anh ta cứ đòi thêm tiền và tôi đưa tổng cộng là ba lần và đòi hỗ trợ thêm. Người nhà anh ta đã yêu cầu giám định, đưa qua điều tra. Đưa qua điều tra tôi có phải đi tù không? Phải chịu trách nhiệm như thế nào? Tôi có phải nhờ tới luật sư để can thiệp không? Tôi có tiếp tục hỗ trợ cho anh ta nữa không? Hiện tại anh ta chưa ra viện. Tôi rất mong sự tư vấn của luật sư, chân thành cảm ơn!

Trong quá trình lưu thông trên đường, quý khách có gặp sự cố như trên. Để xác định quý khách có phải chịu trách nhiệm trước sự việc trên hay không thì quý khách cần xem xét kỹ hành vi của mình có phải là hành vi vi phạm pháp luật an toàn giao thông đường bộ để dẫn đến thương tích của người kia hay không? Hay thương tích trên là do chính hành vi vi phạm an toàn giao thông đường bộ của người đó và một người khác gây ra. Nếu quý khách có hành vi vi phạm an toàn giao thông đường bộ và hành vi đó dẫn đến việc bên kia bị thương thì quý khách phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Tùy theo mức độ thương tật mà quý khách có thể bị tryu cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 202 Bộ Luật Hình sự năm 1999 sửa đổi năm 2009 hoặc phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe theo Bộ Luật Dân sự năm 2015.

Quý khách chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu giám định thương tật của người đó phù hợp quy định tại Điều 202:

"Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Những trường hợp được coi là thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác được hướng dẫn bởi Khoản 4.1 Điều 4 Phần 1 Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP như sau:

"4. Về các tình tiết "gây thiệt hại nghiêm trọng", "gây hậu quả rất nghiêm trọng", "gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" quy định tại Điều 202 Bộ luật Hình sự

4.1. Người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ nếu chỉ căn cứ vào thiệt hại xảy ra, thì gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự: 

a. Làm chết một người; 

b. Gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên

c. Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%; 

d. Gây tổn hại cho sức khoẻ của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng; 

đ. Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người, với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng; 

e. Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng."

Như vây, nếu quý khách gây tổn hại cho sức khỏe của người kia từ 31% trở lên thì quý khách sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 202 Bộ Luật hình sự năm 1999 sửa đổi năm 2009. Nếu dưới mức này thì quý khách chỉ phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại Bộ Luật Dân sự năm 2015 như sau:

"Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.

Điều 585. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

1. Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.

4. Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

5. Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình."

Thưa luật sư cho cháu hỏi, cháu chạy thuê cho nhà xe Thông Sâm chuyên tuyến Krông Năng đi Buôn Ma Thuột (tỉnh Đăk Lăk), khi chủ xe chỉ thị cho phụ xe phải đón xe ngay cổng bệnh viện (là nơi cháu bị vi phạm) và tới nơi cháu chưa dừng xe hẳn thì phụ xe đã mở cửa và có hai khách thấy mở cửa cũng nhảy xuống theo và bị ghi hình lại, cháu chưa đi xử lí vì xử lí sẽ không được phép lái xe kiếm cơm nuôi vợ nuôi hai con nhỏ. Vậy cháu xin hỏi có cách nào để xử lí bằng lái sớm hơn không vì lỗi không phải do cháu mà chủ xe bắt buộc nên cháu phải nghe theo.

Đối với hành vi đón khách không đúng nơi quy định trên những tuyến đường đã xác định thì người điều khiển xe ô tô chở khách sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo điểm đ khoản 5 Điều 23 Nghi định số 46/2016/NĐ - CP như sau:

"Điều 23. Xử phạt người điều khiển xe ô tô chở hành khách, ô tô chởử người vi phạm quy định về vận tải đường bộ
5. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
đ) Đón, trả hành khách không đúng nơi quy định trên những tuyến đường đã xác định nơi đón, trả khách hoặc dừng đón, trả hành khách quá thời gian quy định, trừ hành vi vi phạm quy định tại Khoản 7 Điều này;
e) Đón, trả hành khách tại nơi cấm dừng, cấm đỗ, nơi đường cong tầm nhìn bị che khuất, trừ hành vi vi phạm quy định tại Khoản 7 Điều này;"

Như vây, hành vi đón khách không đúng nơi quy định chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính, không bị áp dụng các biện pháp khác như giữ bằng lái xe. Quý khách đừng quá lo lắng việc mình sẽ bị giữ bằng lái xe trong trường hợp này nhé.

Kính gửi Văn phòng Luật, mong văn phòng tư vấn giúp tôi về lỗi vi phạm giao thông. Tôi có vi phạm tốc độ 50/45 km/h tôi có giao bằng lái xe và lập biên bản. Nhưng lại không kí vô biên bản. Ngày hôm sau tôi làm đơn có chữ kí xác nhận tại địa phương. Nhưng khi lên nộp lại tìm không thấy bằng lái xe. Tôi đã lên 2; 3 lần vẫn không tìm thấy bằng lái xe. Giờ tôi phải làm sao để lấy lại được bằng. Mong luật sư tư vấn?

Với lỗi điều khiển xe chạy quá tốc độ như trên, hành vi của quý khách sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính tùy vào loại phương tiện quý khách điều khiển là ô tô hay mô tô theo Nghị định số 46/2016/NĐ - CP. Đối với sự việc quý khách đã lên lpaja biên bản và ký xác nhận như vậy để nộp phạt theo quy định thì cán bộ cảnh sát giao thông đã tạm giữ bằng lái của quý khách để lấy lại. Nếu việc tạm giữ bằng lái xe của quý khách không được lập biên bản và cán bộ đó làm mất thì quý khách có thể khiếu nại về hành vi tạm giữ Giấy phép lái xe không đúng quy định pháp luật.

Tôi bị công an bắt vì lỗi không gương nhưng chưa lập biên bản, công an hẹn tôi ra địa điểm giải quyết nhưng khi tôi ra thì không thấy công an đâu, giờ tôi phải làm sao và họ giữ bằng lái xe của tôi

Trong khi tham gia giao thông, quý khách điều khiển xe không có gương. Nhưng cụ thể trường hợp của quý khách như thế nào? Quý khách điều khiển xe mô tô hay xe ô tô. Đối với hai loại phương tiện này, quy định pháp luật về lỗi không có gương cũng khác nhau. Quý khách vui lòng tham khảo Điều 16 và Điều 17 Nghị định 46/2016/NĐ - CP để áp dụng vào trường hợp của mình xem có phải vi phạm quy định pháp luật giao thông không. Nếu quý khách có hành vi vi phạm thì sẽ bị xử phạt theo đúng quy định và phải lập biên bản ghi lại sự việc và biên bản tạm giữ giấy phép lái xe. Quý khách đến chốt của công an giao thông tại đó để được thông tin về cán bộ đã tạm giữ giấy tờ xe của mình.

Cho con hỏi nếu một xe ô tô đang lưu thông trên đường, tuân thủ đúng luật giao thông, bỗng bị nổ lốp và va quẹt vào xe khác gây xay sát ngoài da. Vậy trong tình huống đó, người lái xe ô tô có vi phạm pháp luật hay không ?

Nếu người điều khiển phương tiện tuân thủ quy định pháp luật về an toàn giao thông nhưng do sự kiện khách quan mà xảy ra tai nạn giao thông, gây thương tích cho người khác thì quý khách không bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông. Còn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tài sản cho người kia thì quý khách có thể sẽ phải thực hiện theo quy định pháp luật nếu quý khách không chứng minh được sự kiện đó là sự kiên bất khả kháng không thể lường trước được. Nếu quý khách chứng minh được chiếc xe bị nổ lốp là sự kiện khách quan thì quý khách không phải bồi thường thiệt hại cho người kia vì trường hợp này được loại trừ trách nhiệm dân sự.

"Điều 156. Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự

1. Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện, quyền yêu cầu không thể khởi kiện, yêu cầu trong phạm vi thời hiệu.

Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.

Trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có quyền, nghĩa vụ dân sự không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền, nghĩa vụ dân sự của mình"

"Điều 601. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.

Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải vận hành, sử dụng, bảo quản, trông giữ, vận chuyển nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật.

2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

3. Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp sau đây:

a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.

Khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại."

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Giao thông - Công ty luật Minh Khuê