Khách hàng: Thưa Luật sư Minh Khuê, Luật sư hãy phân tích về Hiệp định thương mại tự do là gì? Hiệp định này dẫn chiếu những điều khoản của Hiệp định GATT về quy tắc chống phá giá như thế nào?

Cảm ơn!

Trả lời: 

 

1. Hiệp định thương mại tự do

Hiện có nhiều cách hiểu về các Hiệp định thương mại tự do. Theo cách hiểu chung nhất thì một Hiệp định thương mại tự do (Free Trade Agreement – FTA) là một thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều Thành viên nhằm loại bỏ các rào cản đối với phần lớn thương mại giữa các Thành viên với nhau. FTA có thể mang nhiều tên gọi khác nhau, ví dụ Hiệp định Đối tác Kinh tế (Economic Partnership Agreement), Hiệp định thương mại Khu vực (Regional Trade Agreement)… nhưng bản chất đều là các thỏa thuận hướng tới tự do hóa thương mại giữa các Thành viên.

Hiệp định thương mại tự do (FTA – Free Trade Agreement) được hiểu là các hiệp định hợp tác kinh tế được ký giữa hai hay nhiều thành viên nhằm loại bỏ các rào cản với phần lớn hoạt động thương mại đồng thời thúc đẩy trao đổi thương mại giữa các nước thành viên với nhau. Các rào cản thương mại có thể dưới dạng thuế quan, quota nhập khẩu, các hàng rào phi thuế quan khác như tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn về vệ sinh dịch tễ, …

Hiện nay có nhiều thuật ngữ được sử dụng khác nhau như Hiệp định đối tác kinh tế (Economic Partnership Agreement), Hiệp định thương mại khu vực (Regional Trade Agreement), … nhưng nếu bản chất của các hiệp định đều hướng tới tự do hoá thương mại (bao gồm loại bỏ rào cản và thúc đẩy thương mại), thì đều được hiểu là các FTA.

Tuy nhiên, FTA khác với các Hiệp định WTO, các Hiệp định thương mại, đầu tư song phương giữa các quốc gia, hay các Hiệp định thương mại ưu đãi (PTA – Preferential Trade Agreements). Cụ thể, các Hiệp định WTO thường bao gồm cam kết trong các lĩnh vực thương mại cụ thể như hàng hoá, dịch vụ, sở hữu trí tuệ, đầu tư, … hướng đến thống nhất các quy tắc chung tạo nền tảng cho thương mại toàn cầu, và mới chỉ dừng lại ở việc giảm bớt các rào cản thương mại. So với các Hiệp định WTO thì các FTA có mức độ tự do hoá cao hơn, hướng đến không chỉ giảm bớt, mà là loại bỏ hoàn toàn rào cản đối với thương mại. Trong khi đó, khác với FTA, các Hiệp định thương mại đầu tư song phương (ví dụ như Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư song phương, Hiệp định hỗ trợ và hợp tác lẫn nhau trong lĩnh vực hải quan, ….) chỉ hướng đến các cam kết tạo khuôn khổ chung cho hoạt động đầu tư và thương mại giữa hai nước mà không bao gồm các nội dung về loại bỏ rào cản thương mại. Các Hiệp định thương mại ưu đãi (PTA) là những cam kết thương mại đơn phương mà một nước phát triển dành ưu đãi về thuế quan cho hàng nhập khẩu đến từ các nước đang phát triển, không dựa trên cơ sở có đi có lại. Các hiệp định này bao gồm Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP-Generalized System of Preferences).

Thành viên của các FTA có thể là các quốc gia (ví dụ Việt Nam, Trung Quốc, Hoa Kỳ…) hoặc các khu vực thuế quan độc lập (ví dụ Liên minh châu Âu, Hong Kong Trung Quốc…). Vì vậy, thông thường khi nói tới Thành viên FTA, người ta hay dùng từ chung là “nền kinh tế”.

Các FTA có thể là song phương (02 Thành viên) hoặc đa phương/khu vực (nhiều hơn 02 Thành viên).
Phạm vi “thương mại” trong các FTA được hiểu theo nghĩa rộng, có thể bao gồm tất cả các hoạt động kinh doanh sinh lời, trong đó có thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và cả các vấn đề khác liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới thương mại (sở hữu trí tuệ, mua sắm công, lao động, môi trường…).

Như vậy, so với các hiệp định kể trên, các FTA được đặc trưng bởi mục tiêu loại bỏ các rào cản đối với thương mại và mức độ tự do hoá thương mại giữa các Thành viên và mức độ tự do hoá thương mại.

Thông thường các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) được các nước EFTA ký kết không có các quy tắc chống phá giá của riêng họ mà chỉ dẫn chiếu tới những điều khoản có liên quan trong Hiệp định GATT. Văn bản thường quy định rằng bên chịu thiệt hại “có thể áp dụng những biện pháp phù hợp với Hiệp định về việc Bổ sung Điều VI của GATT, với những điều kiện và phù hợp với thủ tục quy định trong FTA”. Phần sau của văn bản này liên quan tới các hành động chống phá giá giữa từng nước EFTA và các nước đối tác tương ứng, các bước thủ tục đề ra trong FTA và uỷ ban Hỗn hợp với các nhiệm vụ cụ thể. Trong một số Hiệp định, trong thời hạn là 30 ngày kể từ ngày thông báo cho Uỷ ban Hỗn hợp thì không được tiến hành một hành động đơn phương nào trừ những hoàn cảnh đặc biệt cần hành động ngay lập tức.

Hiệp định Khu vực Kinh té châu Âu (EEA) là một ngoại trừ của quy tắc này. Thực vậy, triển vọng về việc tránh các hành động chống phá giá trong tương lai đối với một vài nước EFTA là một trong những động lực chính để tham gia đàm phán với Cộng đồng châu Âu (EC), và kết quả là sự ra đời của Hiệp định EEA. Sau những buổi thảo luận kéo dài, mọi người đều nhất trí thừa nhận các thủ tục chống phá giá, chỉ trừ ở một ít lĩnh vực chưa đạt được sự thống nhất về những quy tắc quan trọng. 

 

2. Hiệp định GATT 

Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch (General Agreement on Tariffs and Trade - GATT) là một hiệp ước được ký kết vào ngày 30 tháng 10 năm 1947, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 1948 nhằm điều hòa chính sách thuế quan giữa các nước ký kết.

Hiệp định chung về thuế quan và thương mại, hay còn gọi là hiệp định GATT-94 được xây dựng theo nguyên tắc của mô hình ba cấp, bao gồm:

- Hiệp định GATT-94 được bắt đầu bằng nguyên tắc cơ bản: thương mại không phân biệt đối xử.

- Các hiệp định bổ sung và các phụ lục bao gồm các điều khoản đặc biệt liên quan đến những ngành hoặc những vấn đề chuyên biệt.

- Danh mục và chi tiết nêu cam kết của mỗi nước mở cửa thị trường nội địa của mình cho các nhà cung cấp hàng hóa nước ngoài.

Các danh mục ở phần phụ lục của Hiệp định GATT-94 bao gồm các cam kết có tính ràng buộc về thuế quan đối với thương mại hàng hóa nói chung, về thuế quan và hạn ngạch thuế quan đối với thương mại và một số sản phẩm nông nghiệp.
 

3. Chống bán phá giá 

Phá giá là việc bán sản phẩm ra nước ngoài với giá thấp hơn giá thông thường của nó, mà trong hầu hết các trường hợp là giá tại thị trường nội địa của nhà xuất khẩu.

Bán phá giá trong thương mại quốc tế là hiện tượng xảy ra khi một loại hàng hóa được xuất khẩu (bán sang thị trường nước khác) với giá thấp hơn giá bán của mặt hàng đó tại thị trường nước xuất khẩu. Như vậy có thể hiểu một cách đơn giản là nếu giá xuất khẩu (giá XK) của một mặt hàng thấp hơn giá nội địa (giá thông thường) của nó thì sản phẩm đó được coi là bán phá giá tại thị trường nước nhập khẩu sản phẩm đó.

Bán phá giá là một hiện tượng xảy ra khi một loại hàng hoá được xuất khẩu sang thị trường khác (Thị trường nhập khẩu) lại có giá thấp hơn nhiều, bán phá giá sẽ xảy khi gặp phải một trong ba trường hợp sau giá bán thực tế trên thị trường thế giới nhỏ hơn chi phí sản xuất, giá xuất khẩu thấp hơn giá nội địa nhưng cao hơn chi phí sản xuất, giá xuất khẩu thấp hơn giá thấp nhất đang được bán trên thị trường thế giới.

Khi xuất khẩu sang thị trường nước ngoài, sản phẩm xuất khẩu sẽ phải cạnh tranh với những sản phẩm đã sẵn có trong nội địa. Nhưng tuỳ thuộc vào cách sản xuất, phương pháp, nguyên vật liệu, nhân công ở các nước khác nhau mà giá trị gốc sẽ khác nhau đáng kể.
Nếu không quy định về bán phá giá sẽ xảy ra hiện tượng hàng hoá của các nước nhập khẩu có giá thấp hơn rất nhiều so với sản phẩm nội địa đã có từ trước. Điều đó gây nhũng nhiễu thị trường, làm mất cân bằng sản phẩm, thành phần kinh tế và đặc biệt gây tổn hại nặng nề với những doanh nghiệp trong nước.

 

 

4. Hiệp định thương mại tự do dẫn chiếu những điều khoản của Hiệp định GATT

Thông thường các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) được các nước EFTA ký kết không có các quy tắc chống phá giá của riêng họ mà chỉ dẫn chiếu tới những điều khoản có liên quan trong Hiệp định GATT. Văn bản thường quy định rằng bên chịu thiệt hại “có thể áp dụng những biện pháp phù hợp với Hiệp định về việc Bổ sung Điều VI của GATT, với những điều kiện và phù hợp với thủ tục quy định trong FTA”. Phần sau của văn bản này liên quan tới các hành động chống phá giá giữa từng nước EFTA và các nước đối tác tương ứng, các bước thủ tục đề ra trong FTA và uỷ ban Hỗn hợp vói các nhiệm vụ cụ thể. Trong một số Hiệp định, trong thời hạn là 30 ngày kể từ ngày thông báo cho Uỷ ban Hỗn họp thì không được tiến hành một hành động đơn phương nào trừ những hoàn cảnh đặc biệt cần hành động ngay lập tức.

Hiệp định Khu vực Kinh tế châu Âu (EEA) là một ngoại trừ của quy tắc này. Thực vậy, triển vọng về việc tránh các hành động chống phá giá trong tương lai đối với một vài nước EFTA là một trong nhũng động lực chính để tham gia đàm phán với Cộng đồng châu Âu (EC), và kết quả là sự ra đời của Hiệp định EEA. Sau những buổi thảo luận kéo dài, mọi người đều nhất trí thừa nhận các thủ tục chống phá giá, chỉ trừ ở một ít lĩnh vực chưa đạt được sự thống nhất về những quy tắc quan trọng.

Ở tất cả các ngành kinh tế khác, những thực tiễn xuất khẩu không công bằng có thể được giải quyết bằng các phương tiện khác, đặc biệt là bằng những quy tắc cạnh tranh.

 

5. Kết thúc vấn đề 

Hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hoá kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ, mang lại nhiều lợi ích và thúc đẩy sự phát triển kinh tế của nhiều quốc gia trên cơ sở một nền thương mại và đầu tư công bằng. Nhưng trong khi các quốc gia thành viên WTO đang phải dẫn dỡ bỏ các rào cản thuế quan và thuế hoá các rào cản phi thuế quan thì các biện pháp tự vệ, thuế chống phá giá và thuế đối kháng vẫn ngày càng được nhiều quốc gia phát triển áp dụng một cách triệt để, nhất là, nhiều nước đang phát triển và kém phát triển phải đối mặt với tình trạng hàng hoá nhập khẩu bán phá giá tại thị trường của mình, và gánh chịu những thiệt hại cho sản xuất trong nước. 

Việc tìm các biện pháp bảo đảm thương mại công bằng - biện pháp chống bán phá giá, đang được rất nhiều nước quan tâm, kể cả các nước phát triển và đang phát triển. Tuy nhiên không phải nước nào cũng áp dụng biện pháp chống bán phá giá một cách đúng đắn, đôi khi mang tính chủ quan áp đặt mang tính chính trị Hàng hoá của Việt Nam cũng đã gặp phải những biện pháp chống bán phá giá mà nước sở tại áp dụng. Sự việc đó cũng đã ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hoá của mỗi nước. 

 

 

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng!

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập).