1. Phân tích khái niệm về thương nhân
Thương nhân (tiếng Anh: Merchant hay Business man, tiếng Phâp: Commerẹant) là một chế định quan trọng trong Luật Thương mại của các nước. Tuy nhiên, khái niệm về thương nhân được hiểu không hoàn toàn giống nhau tùy theo quy định của pháp luật mỗi nước.
Ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, đặc biệt là ỏ Hoa Kỳ, Pháp, Đức,... thương nhân là một thuật ngữ, một từ dùng để chỉ những người tiến hành các hoạt động thương mại nhằm mục đích thu lợi nhuận. Hoạt động của những người này, với tư cách là thương nhân, thường mang hai đặc điểm chủ yếu. Thứ nhất, họ thường xuyên ký kết các hợp đồng thương mại và tiến hành các hoạt động kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận. Thứ hai, thương nhân là những người nhân danh bản thân mình để thực hiện các hoạt động kinh doanh đó. Nói cách khác, thương nhân là những người thực hiện các hoạt động kinh doanh một cách độc lập, không phụ thuộc vào người khác và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động kinh doanh của mình.
Thương nhân có thể là một cá nhân hoặc tổ chức
Các thương nhân là cá nhân chính hay còn gọi là thể nhân (physical person) là những người hoạt động như là các nhà kinh doanh (các nhà buôn) riêng lẻ. Họ thường hoạt động ở những lĩnh vực mà luật pháp không đòi hỏi phải có một số vốn lốn, ví dụ như những người buôn bán nhỏ và vừa...
Khi mới ra đời, chế định thương nhân trong pháp luật thương mại của các nước phát triển chủ yếu chỉ điều chỉnh địa vị pháp lý của thương nhân với ý nghĩa là cá nhân người bán và cá nhân người mua trong các hoạt động thương mại. Cùng với thời gian, hoạt động thương mại của thương nhân không chỉ giới hạn ở hoạt động của các cá nhân mà còn bao gồm cả hoạt động thương mại của các tổ chức hành nghê' thương mại, ví dụ như các công ty, các ngân hàng..., không chỉ giới hạn ở hoạt động mua bán hàng hóa hữu hình mà mở rộng sang cả các hoạt động mua bán hàng hóa vô hình (mà ngày nay được hiểu là mua bán dịch vụ)...
Nói cách khác, thương nhân tập thể, tức là các pháp nhân (legal person) thường tồn tại dưới hình thức là các công ty thương mại, các hãng kinh doanh...
Khi tham gia vào các hoạt động kinh tế đối ngoại, địa vị pháp lý của thương nhân là cá nhân không hoàn toàn giống địa vị pháp lý của thương nhân là pháp nhân.
Để được thừa nhận là thương nhân, cần phải thỏa mãn một số điều kiện nhất định do pháp luật quy định. Theo luật của các nước phát triển, để được thừa nhận là thương nhân cần đảm bảo (hai điều kiện: điều kiện thứ nhất liên quan đến con người và điều kiện thứ hai liên quan tới công việc, tối hoạt động, nghề nghiệp của người đó.
2. Điều kiện của thương nhân
Về điều kiện liên quan tới con người, luật pháp tất cả các nước nói chung đều có quan điểm tương đôì thống nhất. Đó là: thương nhân phải là những người có năng lực pháp lý và năng lực hành vi. Tuổi có năng lực hành vi do luật từng nước quy định. Ví dụ: Điều 488 Bộ luật Dân sự của Cộng hòa Pháp và Luật ngày 5/7/1974 của nước này quy định: "Tất cả mọi người tròn 18 tuổi là những người có năng lực hành vi và có thể trở thành thương nhân". Điều này có nghĩa là, tất cả mọi người dưới 18 tuổi (gọi là vị thành niên, kể cả vị thành niên đã được giải phóng - Mineurs émancipés, lẫn vị thành niên chưa được giải phóng - mineurs non émancipés) đều không thể trở thành thương nhân theo luật của Pháp. Những người tuy đã đủ 18 tuổi nhưng đang bị kết án, bị truy tố về mặt hình sự, bị điên, bị bệnh tâm thần, v.v... cũng không thể trở thành thương nhân vì không có năng lực hành vi. Những người nước ngoài sống ở nước sở tại liệu có thể trở thành thương nhân được không? Điều này phụ thuộc vào luật nước sồ tại quy định. Ví dụ, ở Pháp, người nước ngoài được chia thành ba loại là: người nước ngoài chỉ được hưởng chế độ hạn chế (hoặc theo chế độ có đi có lại); người nước ngoài được hưỗng chế độ ưu đãi đặc biệt và người nước ngoài được hưỗng quyền lợi như công dân Pháp theo chế độ đãi ngộ quốc dân. Đối với loại người nước ngoài thứ nhất, về nguyên tắc, luật pháp của Pháp không thừa nhận họ là thương nhân trừ trường hợp trên cơ sở có đi có lại. Trong trường hợp họ được trở thành thương nhân trên cơ sở có đi có lại thì họ phải có thẻ "thương nhân - người nước ngoài". Còn hai loại người nước ngoài còn lại thì có thể trở thành thương nhân mà không cần điều kiện nói trên.
Về điều kiện liên quan tới hoạt động của thương nhân, luật pháp của các nước quy định không hoàn toàn giống nhau:
- Luật của Nhật Bản quy định thương nhân (Trader) là "một người nhân danh bản thân mình, tham gia vào các giao dịch thương mại như một nhà kinh doanh (Business); Một người tham gia vào việc mua bán hàng hóa, như một nhà kinh doanh với một cửa hàng hoặc một hình thức tương tự hoặc một người tiến hành kinh doanh về hầm mỏ cũng được coi là thương nhân (Điều 4 Bộ luật Thương mại của Nhật Bản năm 2002).
- Luật của Hoa Kỳ quy định thương nhân là những người "thực hiện những nghiệp vụ vối những hàng hóa thuộc chủng loại nhất định hoặc thực hiện những nghiệp vụ bằng cách khác nào đó và xét về tính chất nghiệp vụ của mình, họ được coi như là những người có kiến thức hoặc kinh nghiệm đặc biệt trong những nghiệp vụ hoặc đối với những hàng hóa là đôì tượng của các hợp đồng thương mại..." (Điều 2 -104 Bộ luật Thương mại thông nhất Hoa Kỳ - ucc - năm 1952).
- Luật của Pháp quy định thương nhân là tất cả "những người ký hợp đồng thương mại, thực hiện các hoạt động thương mại và coi việc ký kết, thực hiện các hợp đồng thương mại đó là nghề nghiệp thường xuyên của mình" (Điều 1 Bộ luật Thương mại Pháp nám 1807. Bộ luật Thương mại mới năm 2005 cũng giữ nguyên định nghĩa này tại Điều L121-1). Từ khái niệm nêu trên, Luật Thương mại Pháp đưa ra ba tiêu chuẩn liên quan đến nghề nghiệp của thương nhân:
- Thực hiện các hành vi, các hoạt động thương mại;
- Nhân danh bản thân mình để thực hiện các hành vi thương mại đó, vổi tư cách là một người độc lập;
- Coi đó là nghề nghiệp thường xuyên của mình.
Từ ba tiêu chuẩn này, Bộ luật Thương mại Pháp liệt kê một danh mục dài những hành vi được coi là hành vi thương mại như hành vi mua hàng nhằm bán lại vối mục đích thu lợi nhuận; hoạt động kinh doanh chế biến (còn gọi là kinh doanh công nghiệp); các hoạt động dịch vụ như môi giới, ủy thác...; các hợp đồng thuê thương mại như cho thuê cửa hàng (baux commerciaux) (xem Điều L110-1 Bộ luật Thương mại mói năm 2000, tương ứng với Điểu 632 Bộ luật Thương mại năm 1807)... Cũng từ ba tiêu chuẩn trên, Luật Thương mại Pháp không thừa nhận là thương nhân những người làm các nghề như luật sư, bác sĩ, kiến trúc sư, công chứng viên; những người làm công ăn lương, những người lãnh đạo các công ty, cá nhân họ cũng không phải là thương nhân mặc dù công ty đó là công ty thương mại... Không nằm trong quy chế thương nhân là người đi thu gom hàng cho một hãng buôn hoặc những người đại diện, những người chào hàng cho hãng buôn (gọi tắt là VRP - Voyageurs de commerce, représentants ét placiers)... Như vậy, ở Pháp để được thừa nhận là thương nhân, ngoài việc phải có năng lực hành vi còn phải tuân thủ cả ba tiêu chuẩn liên quan đến nghề nghiệp, hoạt động của thương nhân nói trên.
Luật pháp của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển quy định rằng thương nhân có quy chế hoạt động riêng.
Khi tiến hành các hành vi, các hoạt động kinh doanh thương mại, thương nhân phải tuân theo các quy chế pháp lý, quy chế về thuế và quy chế xã hội dành riêng cho thương nhân.
3. Quy chế pháp lý về thương nhân
Địa vị pháp lý của thương nhân ở các nước phát triển do Luật Thương mại điều chỉnh.
Để điều chỉnh địa vị pháp lý của thương nhân, Luật Thương mại nêu ra những nguyên tắc xác định quyền và nghĩa vụ của thương nhân trong hoạt động thương mại cũng như những quy chế hỗ trợ cho các hoạt động thương mại đó. Một trong những nguyên tắc cơ bản, có tính chất xuyên suốt trong Luật Thương mại của các nước phát triển là nguyên tắc tự do thương mại, tự do kinh doanh. Từ nguyên tắc này, Luật Thương mại các nước phat triển nêu ra hang loạt nguyên tắc khác tạo điều kiện thuận lợi cho các thương nhân khi tiến hành kinh doanh thương mại như nguyên tắc tự do hợp đồng. Hợp đồng thương mại có thể được ký kết dưối mọi hình thức (ví dụ: Luật Thương mại Pháp cho phép thương nhân có quyển ký kết các hợp đồng thương mại bằng miệng và do đó có quyền chứng minh về hợp đồng thương mại đó bằng bất cứ cách nào, kể cả việc dùng nhân chứng sống làm bằng chứng cho hợp đồng).
Pháp luật thương mại hiện hành của Pháp quy định: "Với các thương nhân, hoạt động thương mại của họ có thể được chứng minh bằng mọi cách, trừ phi phấp luật quy định khác". Trong khi đó, các hợp đồng do luật dân sự điều chỉnh phải tuân theo một số quy định: những hợp đồng có giá trị trên 750 euros phải được ký dưối hình thức văn bản, có chữ ký của các bên và phải ký đủ vối số bản để mỗi bên giữ một bản. Hoặc những hợp đồng nhận nợ phải có chữ ký của bên cam kết trả nợ và người này phải viết bằng tay sô tiền nợ bằng chữ và bằng số. Luật dân sự của Pháp chỉ thừa nhận hai phương pháp chứng minh về hợp đồng là tuyên thệ hoặc thú tội trưốc tòa.
Hợp đồng thương mại là hợp đồng trong đó cả hai bên hoặc ít nhất một trong hai bên là thương nhân và mục đích ký kết là để thu lợi nhuận. Vì vậy, việc ký kết và thực hiện hợp đồng thương mại chủ yếu do Luật Thương mại điều chỉnh. Tranh chấp trong thương mại do Tòa án thương mại xét xử còn tranh chấp về hợp đồng dân sự do Tòa án dân sự giải quyết.
Luật Thương mại các nước phát triển còn đưa ra các nguyên tắc tự do cạnh tranh, tự do giá cả, tự do quảng cáo... nhằm thúc đẩy sự phát triển của các hoạt động kinh doanh, thương mại và làm dễ dàng hơn cho các hoạt động của thương nhân. Bên cạnh đó thương nhân phải tuân thủ các ngụyên tắc pháp lý đã được Luật Thương mại thừa nhận. Ví dụ: để bảo vệ nguyên tắc tự do cạnh tranh, trong Bộ luật Thương mại Pháp năm 2000 đã đưa ra các quy chế về cấm thỏa thuận ngầm, cấm từ chối bán hàng, cấm phân biệt đôì xử. Theo luật này, các hành vi thỏa thuận ngầm, từ chối bán hàng, phân biệt đôì xử bị coi là các hành vi đi trái với nguyên tắc tự do cạnh tranh và sẽ bị xử lý rất nặng. Ví dụ, hãng Darty đã phải nộp phạt 1,5 triệu euros, hãng Philip nộp 1 triệu euros vì đã ngầm thỏa thuận với nhau để phân chia các đơn gọi thầu (trong lĩnh vực sản xuất và lưu thông đồ điện gia dụng) và do đó dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực này. Đặc biệt, ở Pháp, một số trường hợp từ chối bán hàng sẽ bị coi là tội hình sự và sẽ bị truy tố hình sự; "phạt tù từ 6 tháng đến 4 năm và phạt tiền từ 750 đến 7.500 euros hoặc áp dụng một trong hai hình phạt trên cho bất cứ thương nhân nào đã tự mình tham gia một phần và có vai trò quyết định, một cách man trá, trong việc từ chối bán hàng...".
Luật Thương mại các nước phân biệt sự khác nhau giữa cạnh tranh gian lận với cạnh tranh trung thực và đặt ra các chế tài để xử lý đối vối các thương nhân nào đã tiến hành cạnh tranh gian lận. Ngoài ra, Luật Thương mại của nhiều nước phát triển (trừ Hoa Kỳ) còn quy định án phá sản đốì vối thương nhân, phân biệt sự khác nhau giữa một người (hoặc một tổ chức) là thương nhân bị phá sản với một người không phải là thương nhân bị phá sản cùng mọi hậu quả pháp lý phát sinh từ án phá sản đó.
4. Quy chế về thuế
Luật pháp của hầu hết các nước đều quy định rằng thương nhân phải có nghĩa vụ nộp thuế. Nhiều nước phát triển xây dựng chế độ thuế dành riêng cho thương nhân so với người không phải là thương nhân. Ví dụ ở Pháp, thương nhân phải đóng các loại thuế trực tiếp đánh vào các khoản lợi nhuận kinh doanh và thương mại (gọi tắt là BIC - Impots sur les benefices industriells ét commerciaux) mà không phải đóng các loại thuế đánh vào thu nhập của người làm công ăn lương và thu nhập từ các nghề nghiệp phi thương mại (gọi tắt là BNC - Benefices aux salariers ét aux revenus des prosessions non commerciales).
5. Quy chế xã hội
Về mặt xã hội, thương nhân phải thực hiện các quy định liên quan đến thủ tục thành lập và hoạt động thương mại. Ví dụ, luật một số nưóc quy định thương nhân phải đăng ký vào sổ thương mại, tức là phải đăng ký thương nhân.
Thủ tục đăng ký thương nhân được quy định trong Bộ luật Thương mại của Cộng hòa Liên bang Đức; trong các văn bẳn đặc biệt của Pháp về đăng ký thương mại, trong Luật về Trái vụ của Thuỵ Sĩ; trong Luật Công ty của Anh, Hoa Kỳ...
Đăng ký thương mại được quy định cho các thương nhân nhằm mục đích:
- Bảo đảm cho Nhà nước có thể kiểm soát được sự hình thành, hoạt động của các thương nhân nói chung đồng thời đấu tranh chông lại các hoạt động kinh doanh phi pháp nằm ngoài vòng kiểm soát của Nhà nước;
- Duy trì sự quản lý và điều chỉnh chung của nhà nước đối vối nền kinh tế;
- Giúp Nhà nước thu thuế kịp thời đối với mọi hoạt động kinh doanh;
- Cung cấp cho mọi thành viên trong xã hội các thông tin cần thiết về thương nhân.
Đăng ký thương nhân được thực hiện thông qua việc cung cấp cho các cơ quan có thẩm quyền những thông tin cần thiết về thương nhân như tên, quốc tịch của thương nhân, trụ sở hoạt động, lĩnh vực hoạt động, vốn, hình thức tổ chức nếu thương nhân là một tập thể... Cơ quan có thẩm quyền đăng ký thương mại, đối với thương nhân là Tòa án thương mại (ở Pháp), Bộ Thương mại (ở Anh) cơ quan hành chính hoặc cơ quan Tòa án của các Bang (ở Hoa Kỳ)...
Ở Việt Nam, thương nhân cũng phải đăng ký, gọi là đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp. Điểu 7 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Thương nhân có nghĩa vụ đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật. Trường hợp chưa đăng ký kinh doanh, thương nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật”.
Đăng ký thương nhân được thực hiện dựa trên nguyên tắc công khai, trung thực, minh bạch và tin cậy.
Theo luật pháp của tất cả các nước phát triển, thương nhân được chính thức hưởng quy chế thương nhân, trỗ thành chủ thể khi tham gia vào các hoạt động kinh tế đối ngoại, sau khi đã hoàn thành các thủ tục đăng ký thương nhân.