1. Những quyền lợi của người vợ khi ly hôn là gì ?

Thưa luật sư, Chồng tôi muốn ly hôn - Vậy, xin hỏi luật sư: Theo quy định hiện nay thì tôi được hưởng những quyền lợi gì ạ ? Cảm ơn!

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Căn cứ quy định của Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội Bộ luật tố tụng dân sự 2015:

Thủ tục ly hôn bao gồm:

1. Đơn xin ly hôn, có xác nhận của UBND cấp xã, phường, thị trấn về hộ khẩu và chữ ký của bạn. Trong đơn bạn cần trình bày các vấn đề sau:

- Về kết hôn: Ở đâu? Thời gian? Kết hôn có hợp pháp không? Mâu thuẫn xảy ra khi nào? Mâu thuẫn chính là gì? Vợ chồng có sống ly thân không? Nếu có thì sống ly thân từ thời gian nào tới thời gian nào?

- Về con chung: Cháu tên gì? Sinh ngày tháng năm nào? Nay xin ly hôn chị có yêu cầu gì về giải quyết con chung (có xin được nuôi cháu không, Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha cháu như thế nào)?

- Về tài sản chung: Có những tài sản gì chung? có giấy tờ kèm theo (nếu có). Nếu ly hôn chị muốn giải quyết tài sản chung như thế nào?

- Về nợ chung: Có nợ ai không? có ai nợ vợ chồng không? Tên, địa chỉ và số nợ của từng người? Chị muốn giải quyết như thế nào?

2. Bản sao Giấy khai sinh của các con;

3. Bản sao Giấy CMND, sổ hộ khẩu của cả 2 vợ chồng

4. Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Trường hợp không có bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, thì phải xin xác nhận của UBND cấp xã, phường, thị trấn nơi đã đăng ký kết hôn.

Về vấn đề chia tài sản sau khi ly hôn

Căn cứ theo Luật hôn nhân gia đình quy định:

"Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luậtnày; tài sảnphục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này."

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn
...

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác."

Về vấn đề chia con chung khi ly hôn:

Căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân gia đình quy định:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định:

"Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;"

=> Vậy đối với đơn phương ly hôn thì phải nộp hồ sơ tại TAND cấp huyện nơi mà người còn lại cư trú. Còn ly hôn thuận tình thì có thể yêu cầu giải quyết tại TAND cấp huyện nơi chồng hoặc vợ cư trú đều được.

Thưa luật sư, xin hỏi: Em với chồng kết hôn tại Malaysia và có 2 con nhỏ, 1 bé 27 tháng và 1 bé 10 tháng tuổi. Nếu quyết định ly hôn thì em có được mang con về VN sinh sống không, sau khi ly hôn em có quyền lợi gì không ?

Nếu bạn giải quyết ly hôn tại cơ quan Tòa án ở Thái Lan thì phải căn cứ theo luật pháp của Thái Lan. Nếu bạn yêu cầu giải quyết tại Tòa án nhân dân ở Việt Nam thì bạn có thể dành được quyền nuôi cả 2 đứa con vì cả 2 con của bạn đều dưới 36 tháng tuổi.

Sau khi ly hôn thì bạn là người nuôi dưỡng con trực tiếp thì chồng bạn có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con.

Thưa luật sư, xin hỏi: Vì điều kiện kinh tế khó khăn nên vợ đi làm ở công ty, thời gian gần đây cô ấy ngọai tình. Giờ thì cô ấy đã tự nhận ngoại tình, tôi không biết làm sao để gỡ rắc rối này. nên bỏ qua hay ly hôn, tôi muốn cô ấy về nhà không làm xa nữa nhưng cô ấy không chịu, tôi nên làm gì ?

=> Trường hợp này bạn có thể căn cứ vào tình hình hiện tại để xác định điều mình cần làm. Nếu bạn cảm thấy mâu thuẫn của hai người không thể hòa giải được, tiếp tục chung sống cũng không đạt được mục đích hôn nhân thì bạn mới nên quyết định ly hôn.

Thưa luật sư, xin hỏi: Năm 2009 tôi xây dựng gia đinh, sinh được 1 cháu trai. Đến năm 2012 tôi mắc bệnh hiểm nghèo, không đủ tiền nên tôi đã đi vay anh em bạn bè. Chữa bệnh được 1 năm thì vợ tôi bỏ đi nước ngoài làm ăn để lại cơn mới đươc 2 tuổi. Vậy tôi muốn ly hôn đơn phương thì làm thế nào. Con tôi có nhận được trách nhiệm nào của người mẹ và bên gia đình nhà ngoại không?

Bạn có thể tham khảo mẫu đơn ly hôn đơn phương TẠI ĐÂY .

Trình tự thủ tục như chúng tôi đã cung cấp bên trên.

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi có bạn trai là người Thái Lan. Trước đây anh ấy đã kết hôn với 1 người phụ nữ khác cũng là người Việt Nam, nhưng đã không liên lạc với nhau khoảng 10 năm rồi. Giờ đây anh ấy muốn định cư tại Việt Nam với tôi. Vậy có cách nào để anh ấy không phải ly hôn mà vẫn có thể định cư tại Việt Nam không ?

Trường hợp này anh ấy có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố người vợ cũ mất tích, sau đó làm thủ tục ly hôn khi vợ mất tích rồi đăng ký kết hôn với bạn thì anh ấy có thể định cư được.

Trường hợp anh ấy không muốn ly hôn mà muốn đăng ký thường trú tại Việt Nam thì phải thuộc các trường hợp sau:

- Có công lao, đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam được nhà nước Việt Nam tặng huân chương hoặc danh hiệu vinh dự nhà nước;

- Là nhà khoa học, chuyên gia đang tạm trú tại Việt Nam;

- Được cha, mẹ, vợ, chồng, con là công dân Việt Nam đang thường trú tại Việt Nam bảo lãnh;

Và đáp ứng điều kiện:

- Có chỗ ở hợp pháp, có thu nhập ổn định đảm bảo cuộc sống tại Việt Nam;

- Nếu là nhà khoa học, chuyên gia đang tạm trú tại Việt Nam thì phải có đề nghị của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ quản lý nhà nước về lĩnh vực chuyên môn;

- Nếu được cha, mẹ, vợ, chồng, con là công dân Việt Nam đang thường trú tại Việt Nam bảo lãnh thì phải đã tạm trú tại Việt Nam liên tục từ 03 năm trở lên.

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

2. Tư vấn về thủ tục yêu cầu công nhận bản án ly hôn tại Việt Nam ?

Thưa luật sư! Luật sư cho tôi hỏi: tôi đã ly hôn xong với chồng người nước ngoài, về Việt Nam tôi cần những giấy tờ, hồ sơ nào?
Mong luật sư chỉ bảo cho tôi. Tôi xin cảm ơn!

Những quyền lợi của người vợ khi ly hôn là gì ?

Luật sư tư vấn hôn nhân và gia đình gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Căn cứ vào Bộ luật tố tụng dân sự 2015: trong trường hợp này chị đã ly hôn tại nước ngoài đã có bản án, quyết định ly hôn của Tòa án nước ngoài đã có hiệu lực và nếu như chị muốn bản án này có hiệu lực thi hành tại Việt Nam thì chị phải làm hồ sơ yêu cầu Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành bản án, quyết định này tại Việt Nam.

Hồ sơ để yêu cầu Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành bản án ly hôn tại Việt Nam bao gồm :

- Đơn yêu cầu công nhận: Đơn phải đảm bảo các nội dung quy định tại Điều 433, khoản 1 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

- Bản sao hợp pháp bản án, quyết định của Toà án nước ngoài;

- Văn bản xác nhận bản án, quyết định đó có hiệu lực pháp luật, chưa hết thời hiệu thi hành và cần được thi hành tại Việt Nam trừ trường hợp trong bản án, quyết định đó đã thể hiện rõ những điểm này;

- Văn bản xác nhận việc đã gửi cho người phải thi hành bản sao bản án, quyết định đó. Trường hợp người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của người đó vắng mặt tại phiên tòa của Toà án nước ngoài thì phải có văn bản xác nhận người đó đã được triệu tập hợp lệ;

Đơn và các giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo đơn yêu cầu bằng tiếng nước ngoài phải được gửi kèm theo bản dịch ra tiếng Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp.

Thời hạn giải quyết:

- Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, các giấy tờ, tài liệu kèm theo, Bộ Tư pháp phải chuyển hồ sơ đến Toà án có thẩm quyền theo quy định tại Điều 37 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Trường hợp có văn bản do Tòa án Việt Nam yêu cầu người gửi đơn, Toà án nước ngoài đã ra bản án đó giải thích thì Bộ Tư pháp (trong thời hạn 07 ngày) chuyển văn bản đó tới người gửi đơn hoặc toà án nước ngoài văn bản yêu cầu giải thích đó;

- Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản trả lời yêu cầu giải thích, Bộ Tư pháp gửi cho Toà án Việt Nam đã yêu cầu văn bản trả lời đó.

Những điều cần lưu ý : Trong trường hợp công nhận và cho thi hành bản án của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam thì Tòa án vẫn sẽ vẫn mở phiên họp để xét đơn yêu cầu của chị và chị phải có mặt tại phiên họp này và nếu vắng mặt phải có lý do chính đáng.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Hoàn thiện các qui định về công nhận và thi hành bản án, quyết định của Tòa án, quyết định của trọng tài nước ngoài

>> Xem thêm:  Tư vấn quyền nuôi con khi ly hôn theo quy định mới năm 2020 ?

3. Không có giấy tờ của chồng có ly hôn được không ?

Thưa Luật sư, tôi tên M sinh 1980 còn chồng tôi sinh năm 1954. Chúng tôi đã kết hôn vào tháng 9 năm 2014 và làm thủ tục kết hôn tại UBND phường Kim Long, Huế. Kết hôn không lâu vợ chồng tôi vào Đà Nẵng làm ăn sinh sống, được 3 tháng thì xảy ra xung đột và mâu thuẫn dẫn đến việc không thể dung hòa được mối quan hệ vợ chồng nên chúng tôi đã ly thân sau đó.
Do vội vàng trong công việc làm ăn ở Đà Nẵng nên mọi bản chính giấy tờ kết hôn chồng tôi cất giữ nên trong quá trình ly thân đến vấn đề về thủ tục ly hôn tôi đã gặp phải rất nhiều khó khăn. Vì sau hơn một năm không thể liên lạc được với chồng để giải quyết thủ tục ly hôn. Tháng 9 / 2015 tôi đã gửi đơn yêu cầu đơn phương ly hôn đến TAND Tỉnh Thừa Thiên Huế nhờ giúp đỡ nhưng bị từ chối vì không đầy đủ thủ tục về sổ hộ khẩu, CMND và bản gốc giấy đăng ký kết hôn và lý do tôi không liên lạc được với chồng thì Tòa cũng không có cách nào để liên lạc. Ba lần bốn lượt ra rồi lại về tay không vì chẳng biết phải nhờ sự giúp đỡ từ đâu và từ ai vì ngay cả Tòa cũng không thể giúp được người dân. Mà đến cả cửa nhà chồng cũng không dám bước vào vì từng bị uy hiếp. Tôi không cha không mẹ lại phận nữ lạc loài có chồng lại không được hạnh phúc, hơn một năm qua cuộc sống vất vả bởi cảnh ở nhà thuê chồng lại không màng sống chết ra sao.
Nay tôi mong nhờ sự tư vấn của các vị Luật sư phải thế nào tôi mới có thể hoàn tất thủ tục. Vì kết hôn trong thời gian ngắn và chia tay sau đó nên chúng tôi chưa có gì là tài sản chung, chưa có con chung và tài sản của chồng đều do em chồng nắm giữ. Và vấn đề ly hôn này là đơn phương ly hôn ?
Tôi xin chân thành cám ơn!

Làm thế nào để có thể giành quyền nuôi cả hai con khi ly hôn ?

Luật sư tư vấn hôn nhân trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo Điều 35 và Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì thẩm quyền giải quyết ly hôn thuộc về Tòa án nhân dân cấp huyện.

Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 ghi nhận:

"Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết."

Vậy, nơi mà bạn phải nộp hồ sơ để yêu cầu giải quyết việc ly hôn của mình là Tòa án nhân dân cấp huyện nơi chồng bạn đang cư trú hoặc làm việc.

Đối với việc giấy tờ bạn thiếu để hoàn thành hồ sơ để yêu cầu tòa án thụ lý thì bao gồm: Đăng ký kết hôn bản chính, bản sao có chứng thực sổ hộ khẩu và bản sao có chứng thực chứng minh nhân dân của chồng bạn.

Đối với bản sao giấy đăng ký kết hôn và sổ hộ khẩu thì bạn có thể đến Ủy ban nhân dân xã nơi đăng ký kết hôn, quản lý hộ khẩu để xin trích lục bản sao.

Đối với bản sao chứng minh nhân dân thì bạn cũng có thể xin bản sao tại ủy ban nhân dân xã hoặc cơ quan công an nơi chồng bạn cư trú.

Nếu trường hợp không thể xin được bản sao thì bạn chỉ có thể trình bày để tòa án giúp đỡ tạo Điều kiện.

Khoản 2 Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: "Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác."

Vợ chồng bạn có thể thỏa thuận không sống chung với nhau nhưng việc khi bạn về nhà mà bị chồng dọa đánh đuổi đi là chồng bạn đã vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng. Điều 5 Luật này quy định về việc bảo vệ chế độ hôn nhân gia đình thì hành vi bạo lực gia đình là hành vi bị cấm. Nếu bạn bị chồng bạn đánh đập đuổi đi thì bạn có thể báo với chính quyền nhờ giúp đỡ. Đó cũng là căn cứ để yêu cầu ly hôn theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Đó cũng là căn cứ xác định lỗi trong vụ án ly hôn.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

4. Tư vấn về yêu cầu được nuôi con khi ly hôn ?

Thưa luật sư , em năm nay 18 tuổi đã có gia đình và 2 con. Vì không nghe lời gia đình em nên em đã để có con ngoài ý muốn. Chồng em năm nay 23 tuổi. Bây giờ em xin trình bày câu hỏi của em, khi về sống trong gia đình chồng em chẳng thấy khổ thẹn gì nhưng từ khi sanh con đầu em cũng được lo tử tế. Về sau khi mang thai đứa thứ 2 và cho tới khi sanh em bé thì tất cả lại khác. Trước đó chồng em không lo làm chỉ lo đi chơi nhưng bây giờ thì chịu làm nhưng lúc làm lúc không tiền lại không có.

Mẹ chồng thì ghét em không thương em mà còn đánh em nữa. Bây giờ em sẽ nghe lời gia đình em là sẽ bỏ đi nhưng em muốn ôm con theo mà gia đình không cho. Gia đình em muốn em đi học lại kím cái bằng rồi đi làm kím tiền mốt ba mẹ em lấy con lại cho em nuôi tại giờ em không có nghề sao nuôi con được mà nhà chồng em không coi em ra gì rồi không làm gì hết. Vậy cho em hỏi nếu em bỏ đi 2 đứa con để cho gia đình chồng khi đó em có sai không . Gia đình bên nào sẽ đúng và sai. Nếu thưa ra tòa ai sẽ chịu trách nhiệm . Sau này khi em làm ra tiền và ăn học đầy đủ em có được lấy lại con không vậy luật sư ?

Hãy giúp em với cho em nhận định đúng!

Tư vấn về yêu cầu được nuôi con khi ly hôn?

Luật sư tư vấn về ly hôn và quyền nuôi con, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại điều 69 và khoản 1 Điều 71 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì cha,mẹ có nghĩa quyền và nghĩa vụ:

Điều 69 Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ

1. Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.

2. Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

3. Giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.

4. Không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

Điều 71 Nghĩa vụ và quyền chăm sóc nuôi dưỡng

1. Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Và Điều 81,82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014:

Điều 81 Việc trông nom ,chăm sóc,nuôi dưỡng ,giáo dục con sau khi ly hôn.

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Điều 82 Nghĩa vụ ,quyền của cha mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Như vậy thì trong trường hợp bạn có ở gia đình nhà chồng hay bạn về gia đình nhà đẻ của mình thì bạn vẫn phải có nghĩa vụ nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục,dạy dỗ con bạn. Khi bạn không trực tiếp nuôi con mà để cho gia đình nhà chồng nuôi con thì bạn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con của bạn.

Nếu bạn bỏ đi mà không có bất kỳ thỏa thuận hay nghĩa vụ gì với hai con của bạn thì như vậy là bạn sai. Nếu đưa ra tòa thì tòa sẽ yêu cầu bạn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con của bạn. Tuy nhiên đây sẽ là căn cứ bất lợi cho bạn sau này khi muốn nhân nuôi con vì ngay tại thời điểm hiện tại bây giờ bạn bỏ đi mà không có bất kỳ thỏa thuận gì với chồng bạn và không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho hai con của bạn thì sau này bạn sẽ khó có được quyết định đồng ý cho nuôi con của Tòa án.

Theo quy định của pháp luật (khoản 2 Điều 81) hai vợ chồng bạn sẽ thỏa thuận về quyền nuôi con nếu không thỏa thuận được thì tòa sẽ quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Còn nếu sau này bạn muốn nhận con thì khi con bạn từ đủ 07 tuổi trở nên việc bạn có được quyền nuôi con hay không còn phụ thuộc vào việc con của bạn muốn ở với ai.

Nếu con bạn dưới 36 tháng tuổi thì bạn được trực tiếp nuôi, trừ trường hợp bạn không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc vợ chồng bạn có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

5. Làm thế nào để có thể giành quyền nuôi cả hai con khi ly hôn ?

Xin chào luật sư, tôi và chồng có 2 con chung bé gái được 40 tháng tuổi và bé trai được 20 tháng tuổi chồng tôi muốn ly hôn và chia con ra nuôi, tôi nuôi bé gái và chồng tôi nuôi bé trai nhưng tôi không thoả thuận ký giấy vì tôi muốn trực tiếp nuôi hai bé vì nó còn quá nhỏ.
Vậy xin hỏi luật sư tôi có thể nuôi được 2 con hay không ?
Mong luật sư tư vấn giúp tôi !

Luật sư tư vấn:

Theo quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình 2014 về người trực tiếp nuôi con như sau:

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Như vậy, pháp luật tôn trọng sự thỏa thuận của cha và mẹ ưu tiên đến quyền và lợi ích của con sau khi ly hôn. Tuy nhiên, đối với trường hợp của bạn 2 người đã không thỏa thuận được với nhau về người trực tiếp nuôi con thì có thể nhờ Tòa án quyết định.

Thứ nhất là bé trai 20 tháng tuổi, như vậy theo khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, trừ trường hợp mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng…hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Thứ 2 là về bé gái 40 tháng tuổi bạn cần có được sự đồng ý theo thỏa thuận của chồng. Nếu như hai người không thỏa thuận được thì hai bên phải chứng minh các điều kiện đảm bảo tốt nhất cuộc sống của con. Hội đồng xét xử sẽ xem xét, dựa trên quyền và lợi ích của con dựa trên các tiêu chí sau đây để đưa ra quyết định:

- Điều kiện về vật chất : Bạn phải chứng minh được mình có đầy đủ các điều kiện về vật chất như ăn ở, sinh hoạt hàng ngày, điều kiện học tập… các yếu tố này sẽ được xét trên điều kiện về chỗ ở, tài sản, thu nhập của cô ấy. Người vợ phải chứng minh được mình có điều kiện về tài chính hơn so với người chồng, và mức thu nhập, nơi cư trú của người vợ phải đủ để đảm bảo điều kiện về nuôi dưỡng và học tập, vui chơi cho cả ha

- Các yếu tố về tinh thần bao gồm : Thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con, tình cảm dành cho con từ trước đến nay, điều kiện cho con vui chơi, giải trí, nhân cách đạo đức của cha mẹ. Do đó, bạn phải chứng minh được mình có đủ thời gian để chăm sóc, dạy dỗ, tạo điều kiện cho cả hai bé vui chơi, giải trí. Ngoài ra, bạn có thể đưa ra các bằng chứng chứng minh về tư cách đạo đức của chồng như hành vi ngoại tình, hành vi dùng bạo, thường xuyên đi làm việc xa nhà… để Tòa có thể xem xét. Đây sẽ là căn cứ để chứng minh anh chồng không đáp ứng được điều kiện về tinh thần, tức là có đạo đức không tốt, không đủ điều kiện để chăm sóc các con.

Như vậy, nếu bạn của bạn muốn giành quyền nuôi con thì bạn của bạn cần chứng minh được mình đáp ứng được tất cả các điều kiện để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho hai bé cả về vật chất lẫn tinh thần để Tòa án có căn cứ giao cả hai bé cho bạn nuôi.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân về quyền nuôi con trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số : 1900.6162 hoặc gửi qua email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác !

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Hướng dẫn viết đơn xin ly hôn như thế nào ? Giải quyết tranh chấp tài sản sau ly hôn ?