1. Khái quát về việc quy định chế định pháp luật
Thời gian qua, Bộ luật hình sự năm 2015 được Quốc hội ban hành chưa có hiệu lực đã phải sửa đổi, bổ sung vì phát hiện có nhiều sai sót. Hậu quả sai sót của Bộ luật hình sự năm 2015 đã kéo lùi thời gian có hiệu lực của Bộ luật tố tụng hình sự, Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự và Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 cho đến ngày 01/01/2018 mới có hiệu lực.
Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng hiện nay được xem là khâu đột phá của cải cách tư pháp. Vấn đề này đã được Đảng đặt ra bắt đầu từ Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, tiếp tục đến Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005, đến nay đã được quy định tại Hiến pháp năm 2013 - “nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”. Cụ thể hóa, các luật tố tụng được ban hành (Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Luật tố tụng hành chính năm 2015) đã chi tiết hóa thành các nguyên tắc tố tụng, quy định các quyền và nghĩa vụ của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng; quyển thu thập, cung cấp, tiếp cận chứng cứ; quyền suy đoán vô tội; tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư tham gia tố tụng... Việc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong hoạt động xét xử của Tòa án sẽ bảo đảm cho các bên tham gia vụ án được bình đẳng trong việc trình bày chứng cứ, quan điểm, tranh luận một cách dân chủ để làm sáng tỏ bản chất vụ án, qua đó giúp cho hoạt động xét xử của Tòa án được khách quan, toàn diện, đúng pháp luật, hạn chế oan sai, bảo vệ được công lý. Tuy nhiên, để phát huy hết giá trị này, việc xét xử đòi hỏi đều phải có Luật sư tham gia. Đây là yêu cầu rất khó, về lâu dài Việt Nam mới có thể đạt được.
Từ khi có Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987, Pháp lệnh luật sư năm 2001, Luật luật sư năm 2006 và Luật luật sư sửa đổi, bổ sung năm 2012, số lượng và chất lượng luật sư tăng lên đáng kể (hơn 13.000 luật sư, tính đến năm 2019). Tuy nhiên số lượng luật sư hiện nay so với dân số còn rất thấp, khoảng 01 luật sư/14.000 người dân, trong khi đó tỷ lệ này ở Thái Lan là 01/1.526, Singapore là 01/1.000, Nhật Bản là 01/4.546, Pháp là 01/1.000, Mỹ là 01/250. Số lượng luật sư phát triển còn mất cân đối giữa khu vực thành thị và nông thôn, đồng bằng và miền núi, vùng sâu, vùng xa. Điều đó cho thấy, các quy định của pháp luật vẫn chưa thật sự tạo được sức thu hút đối với nghề luật sư cũng như chưa đẩy mạnh nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý của xã hội. Như vậy, nguyên tắc tranh tụng mặc dù đã được triển khai hơn 15 năm nay nhưng trên thực tế thực hiện vẫn chậm, chưa thật sự đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp.
2. Hạn chế trong việc bảo vệ trật tự Hiến pháp
Về vấn đề bảo vệ trật tự hiến pháp, các luật tố tụng hiện nay đều quy định cho Tòa án có quyền kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền để xử lý các văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật và các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên được phát hiện trong quá trình giải quyết vụ việc. Theo đó, nếu là Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của ủy ban thường vụ Quốc hội thì Tòa án kiến nghị và thực hiện theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật; nếu là văn bản quy phạm pháp luật khác trái với Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của ủy ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên thì Tòa án kiến nghị và thực hiện theo thủ tục tố tụng từng loại vụ việc. Trong thời hạn luật định, cơ quan bị kiến nghị phải trả lời bằng văn bản, nếu quá thời hạn mà không nhận được văn bản trả lời, Tòa án sẽ áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn để giải quyết. Tuy nhiên, việc thực hiện kiến nghị không thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử và không được thể hiện trong phán quyết của Tòa án mà được giao cho Chánh án thực hiện (Điều 221 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 265 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Chương VIII Luật tố tụng hành chính năm 2015). Các quy định trên đã thể hiện những điểm tiến bộ nhất định nhưng vẫn còn nhiều vấn đề phải bàn. Nếu trường hợp Hội đồng xét xử phát hiện văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật để nghị Chánh án kiến nghị nhưng Chánh án không thực hiện thì Hội đồng xét xử sẽ xử lý ra sao? Mặt khác, vì không quy định cho Hội đồng xét xử được tuyên bố văn bản quy phạm pháp luật là vi phạm và không áp dụng văn bản quy phạm pháp luật vi phạm trong nội dung phán quyết nên khi gặp trường hợp giải quyết vụ án tương tự liên quan đến văn bản vi phạm đó thì Hội đồng xét xử sẽ phải tiến hành thủ tục kiến nghị lại từ đầu (nếu cơ quan bị kiến nghị chưa sửa đổi văn bản vi phạm), gây kéo dài thời gian tố tụng.
3. Hạn chế về Văn bản quy phạm pháp luật
Vấn đề này được thể hiện bằng việc vẫn còn việc nợ đọng văn bản của giai đoạn trước còn kéo dài; vẫn còn tình trạng áp dụng các quy định đã ban hành trước khi luật, nghị quyết có hiệu lực mà không ban hành văn bản mới; vẫn phát hiện một số văn bản có dấu hiệu chưa bảo đảm tính hợp pháp, tính thống nhất, bao gồm cả về thẩm quyền ban hành và nội dung văn bản…trong những tồn tại, hạn chế, đáng chú ý là số lượng các nội dung luật giao quy định chi tiết còn nhiều; sự chủ động trong việc chuẩn bị và xây dựng dự thảo văn bản quy định chi tiết còn hạn chế; việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương trong công tác xây dựng pháp luật trong một số trường hợp chưa nghiêm; trong đó việc xác định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong việc để xảy ra tình trạng chậm, nợ ban hành văn bản quy định chi tiết, ban hành văn bản có nội dung vượt, trái phạm vi được giao, chưa phù hợp với quy định của luật chưa được quan tâm đúng mức; chất lượng dự thảo văn bản quy định chi tiết trình đồng thời trong hồ sơ một số dự án luật còn hạn chế, còn mang tính hình thức, đối phó; một số nội dung được giao quy định chi tiết trong luật là những vấn đề khó, phức tạp, chưa được nghiên cứu sâu, chưa đủ rõ, không lường trước được những khó khăn, vướng mắc..
Việc Tòa án kiến nghị các trường hợp vi phạm trật tự hiến pháp theo quy định mới, hiện nay Tòa án nhân dân tối cao chưa có số liệu nào thống kê. Tuy nhiên, qua các kênh thông tin khác cho thấy, theo Báo cáo của Bộ Tư pháp, trong năm 2017 đã phát hiện có khoảng 5.000 văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật về thẩm quyền ban hành, nội dung, căn cứ pháp lý, thể thức, kỹ thuật trình bày... của các Bộ, cơ quan ngang Bộ và chính quyền cấp tỉnh. Về phía xã hội, theo khảo sát trong “Chỉ số công lý năm 2015: Hướng tới một nền tư pháp vì dân” (thuộc dự án phối hợp giữa Hội Luật gia Việt Nam, Trung tâm nghiên cứu phát triển và hỗ trợ cộng đồng CECODES và Chương trình phát triển Liên hiệp quốc UNDP), khi được hỏi “ông/bà có từng nghe/hoặc có biết về Hiến pháp hay không?”, có 6% người tham gia khảo sát trả lời “biết rõ”, 54% “có biết đôi chút” và 41% “không biết”; qua đó cho thấy, một bộ phận người dân dường như còn xa lạ với Hiến pháp, huống gì nói đến nhu cầu bảo vệ trật tự hiến pháp.
Văn bản được coi là trái với pháp luật được quy định như sau:
4. Tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân
Về pháp luật quy định về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 đã cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013, thể hiện nhiều điểm tiến bộ, tạo ra những bước chuyển biến tích cực trong tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân trong thời gian qua. Xuất phát từ hoạt động đặc thù của Tòa án là phải xét xử khách quan, công bằng, nên “cấp trên” hay “lãnh đạo” của Tòa án không thể là ông Chánh án hay một ai khác mà phải là pháp luật, là công lý. Tòa án phải là nơi mà các cán bộ xét xử phải được trao đổi, tranh luận một cách cởi mở, dân chủ, khoa học để tìm ra sự thật, lẽ phải chứ không phải là nơi dành cho mệnh lệnh, phục tùng một chiều. Chế độ quản lý Tòa án nhân dân cần được quy định theo hướng tạo điều kiện cho hoạt động xét xử được độc lập và chỉ tuân theo pháp luật để bảo vệ công lý, tuy nhiên, các quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân hiện nay còn mang nặng chế độ thủ trưởng, chế độ quản lý Tòa án nhân dân giống như của cơ quan hành chính. Nếu Chánh án là người thiếu đạo đức nghề nghiệp thì đây là một trong những nguyên nhân đầu tiên gây ra tham nhũng tư pháp. Quy định về tên gọi Tòa án nhân dân địa phương còn nặng về quản lý hành chính mà chưa thể hiện rõ tính chất theo thẩm quyền xét xử, như Tòa án nhân dân huyện..., Tòa án nhân dân tỉnh..., đúng ra phải nên quy định là Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tại huyện..., Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm và phúc thẩm tại tỉnh...
Theo quy định hiện hành thì thẩm quyền xét xử của mỗi Tòa án được xác định vừa theo lãnh thổ vừa theo tính chất các vụ việc và thủ tục giải quyết, xét xử các vụ án; trong đó Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền xét xử sơ thẩm, còn lại các Tòa án cấp trên đều có thẩm quyền xét xử hỗn hợp, vừa phúc thẩm, vừa giám đốc thẩm (Tòa án nhân dân tối cao), hoặc vừa xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, vừa giám đốc thẩm, tái thẩm (Tòa án cấp tỉnh). Điều này là không thể hiện đúng, chính xác tính chất hoạt động, vai trò, vị trí của Tòa án mỗi cấp quy định trong hệ thống Tòa án.
Bên cạnh đó, việc có quá nhiều cơ quan có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm (gồm 63 Tòa án cấp tỉnh, 5 Tòa chuyên trách của Tòa án nhân dân tối cao và Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) khiến cho mục tiêu thống nhất trong việc áp dụng pháp luật và xác định đường lối xét xử chung của chế định giám đốc thẩm, tái thẩm bị ảnh hưởng.
5. Thiếu chặt chẽ trong việc quy định về luân chuyển, điều động, biệt phái cán bộ
Quy định về luân chuyển, điều động, biệt phái cán bộ còn thiếu chặt chẽ và chưa tập trung vào Tòa án nhân dân tối cao, nên việc phân bổ nguồn lực Thẩm phán chưa thống nhất, còn xảy ra tình trạng có nơi làm không hết việc, có nơi có quá ít việc để làm.
Thẩm phán trong một số trường hợp sẽ phải điều động, luân chuyển hay biệt phái đến một khu công tác nào đó để đảm bảo cho hoạt động xét xử của mình vấn đề này được quy định tại Luật tổ chức tòa án nhân dân 2014
Ngoài ra chế độ báo cáo thống kê còn nặng về thành tích. Quy định mỗi năm tính từ ngày 01/10 đến 30/9 năm sau (từ năm 2018, tính từ ngày 01/12 đến 30/11 năm sau) phải giải quyết đạt bao nhiêu %, điều này chỉ “đẹp” về số liệu nhưng không phản ảnh hết được thực chất về chất lượng. Để phấn đấu đạt chỉ tiêu này, mỗi khi đến gần hết năm thi đua, để lấy cái chỉ tiêu tòa án tìm mọi cách đối phó như yêu cầu đương sự rút đơn; chỉ tập trung thụ lý, giải quyết các vụ việc dễ để giảm tỷ lệ án bị hủy, sửa trong năm; còn án khó thì tìm cách tạm đình chỉ để khỏi quá hạn; vụ việc được giải quyết một cách vội vàng, đại khái...
Số lượng vụ việc được giải quyết thực tế chiếm hơn một nửa là các vụ việc hôn nhân gia đình (ly hôn); số liệu thống kê vụ việc được giải quyết lại tính luôn các quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ việc (sau này Tòa án tối cao đã không cho tính tỉ lệ quyết định tạm đình chỉ); các vụ án dân sự, hành chính liên quan đến tranh chấp đất đai thì hầu hết đều kéo dài hàng năm hoặc nhiều năm vì nhiều nguyên nhân khác nhau. Các vấn đề này thường không được thể hiện tại các báo cáo chính thức nên các cơ quan chức năng không thấy hết được các khó khăn trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân. Như nhận xét của TS. Phạm Minh Tuyên, Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh: “Tỷ lệ giải quyết các loại án trong hệ thống Tòa án nhân dân không đúng với thực chất, tỷ lệ giải quyết ảo tương đối cao vì sẽ có những vụ án được tỉnh giải quyết hai lần thậm chí tới ba bốn lần vì các vụ án tạm đình chỉ rất nhiều nhưng vẫn tính là đã giải quyết xong. Nếu căn cứ vào tỷ lệ hoàn thành công việc như báo cáo thì thực chất chúng ta rất thiếu biên chế, các đơn vị trong toàn hệ thống đều đang quá tải trong công tác xét xử nhưng không có căn cứ đề xin tăng biên chế’.
Trong hoạt động của mình, uy quyền của Tòa án còn thể hiện chưa tương xứng, vì hiện nay pháp luật triển khai các quy định về xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án của các cơ quan, tổ chức, cá nhân còn chậm; đối với Thẩm phán thì chưa có cơ chế bảo đảm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm đối với họ và gia đình họ.
Về chế độ bổ nhiệm, các Thẩm phán hiện nay đều làm việc theo nhiệm kỳ, chưa phù hợp với yêu cầu của nghề nghiệp tất cả những hạn chế trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của hoạt động xét xử của Tòa án trong việc bảo vệ công lý.
Luật Minh Khuê xin cảm ơn!