1. Người khởi kiện không có quyền khởi kiện

Thực chất đây chính là điều kiện thứ nhất về chủ thể khởi kiện vụ án hành chính. Khoản 8 Điều 3 Luật TTHC giải thích rằng chủ thể khởi kiện là “cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh; danh sách cử tri”. Như vậy chủ thể khởi kiện có thể là cá nhân gồm công dân Việt Nam, người nước ngoài; tổ chức; cơ quan nhà nước. Quyền khởi kiện và chủ thể khởi kiện là hai yếu tố gắn bó mật thiết với nhau. Quyền khởi kiện sẽ được trao cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm trực tiếp bởi đối tượng khởi kiện. Vì thế khi chủ thể khởi kiện không bị xâm phạm trực tiếp bởi đối tượng khởi kiện, Tòa sẽ trả lại đơn khởi kiện vì họ không có quyền khởi kiện.

Việc quy định Tòa trả lại đơn khởi kiện trong trường hợp này hoàn toàn đảm bảo được nguyên tắc được đề cập tại Điều 5 Luật TTHC: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của Luật này” và cũng phù hợp với Điều 8 Luật TTHC về Quyền quyết định và tự định đoạt của người khởi kiện theo đó “Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ án hành chính khi có đơn khởi kiện của người khởi kiện”.

2. Người khởi kiện không có năng lực hành vi tố tụng hành chính đầy đủ

Thực chất đây chính là điều kiện thứ hai về chủ thể khởi kiện vụ án hành chính theo đó để quyền khởi kiện vụ án hành chính của cá nhân, cơ quan, tổ chức được hiện thực hóa thì quyền khởi kiện phải được thực hiện bởi những chủ thể có năng lực hành vi tố tụng hành chính đầy đủ. Nếu như năng lực pháp luật tố tụng hành chính của cá nhân phát sinh từ khi cá nhân sinh ra và mất đi khi cá nhân chết còn của cơ quan, tổ chức thì phát sinh từ khi cơ quan, tổ chức được thành lập và mất đi khi cơ quan, tổ chức đó bị giải thể thì “Năng lực hành vi tố tụng hành chính là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ trong tố tụng hành chính hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng hành chính”. Trong một số trường hợp người bị xâm phạm bởi các đối tượng khởi kiện vụ án hành chính có thể là người không có năng lực hành vi tố tụng hành chính đầy đủ như người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi hoặc cơ quan, tổ chức khi đó họ phải thực hiện quyền khởi kiện thông qua người đại diện theo pháp luật nên nếu họ tự mình khởi kiện (thể hiện qua việc trực tiếp ký vào phần chữ ký của người khởi kiện trong đơn khởi kiện) thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện. Như vậy việc khởi kiện vụ án hành chính có thể được thực hiện bởi người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi tố tụng hành chính đầy đủ (họ có thể tự mình hoặc thông qua người đại diện theo ủy quyền) và người đại diện theo pháp luật của cá nhân, cơ quan, tổ chức không có năng lực hành vi TTHC đầy đủ. Luật TTHC năm 2015 không phân biệt giữa chủ thể có quyền khởi kiện với chủ thể thực hiện việc khởi kiện vụ án hành chính mà chỉ quy định chung chung là người khởi kiện. Và cách định nghĩa người khởi kiện theo quy định tại Khoản 8 Điều 3 “người khởi kiện là người khởi kiện” thể hiện sự không rõ ràng nên khi xem xét các điều kiện về chủ thể khởi kiện ta cần tuân thủ và vận dụng linh hoạt các quy định ở khoản 8 Điều 3, Điều 5, khoản 1 Điều 9, Điều 54 của Luật TTHC.

Pháp luật TTHC cũng giống như pháp luật của các ngành luật khác, trừ những ngoại lệ đã được quy định cụ thể thì luôn đòi hỏi người tham gia vào các quan hệ pháp luật thuộc ngành luật đó phải có năng lực hành vi đặc biệt việc khởi kiện vụ án hành chính là một hành vi tố tụng nên chủ thể khởi kiện phải có năng lực hành vi tố tụng hành chính. Việc quy định như trên bảo đảm sự thống nhất của các quy định pháp luật trong cùng một hệ thống pháp luật.

3. Người khởi kiện thiếu điều kiện khởi kiện

3.1. Về chủ thể khởi kiện và quyền khởi kiện

Để khởi kiện vụ án hành chính thì cá nhân, cơ quan, tổ chức phải có quyền và lợi ích hợp pháp bị ảnh hưởng trực tiếp bởi các quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh; danh sách cử tri đồng thời họ phải có năng lực hành vi tố tụng hành chính đầy đủ Thiếu một trong hai điều kiện này thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện.

3.2. Về đối tượng khởi kiện

Một quyết định hành chính được xem là đối tượng của khởi kiện vụ án hành chính khi thỏa mãn 3 điều kiện:

- Thứ nhất, quyết định hành chính phải là một văn bản áp dụng pháp luật trong lĩnh vực hành pháp tức là nó chứa đựng một mệnh lệnh bắt buộc đối với một chủ thể cụ thể trong một tình huống cụ thể. Cần phân biệt văn bản áp dụng pháp luật trong lĩnh vực hành pháp với các loại văn bản khác không là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính như văn bản quy phạm pháp luật – chứa đựng các quy tắc xử sự chung, mang tính bắt buộc chung (như Nghị định, Thông tư,…) hay văn bản áp dụng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp (như bản án của Tòa, quyết định đình chỉ vụ án,…). Quyết định hành chính đó còn phải do cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành.

- Thứ hai, quyết định này bị kiện bởi cá nhân, cơ quan, tổ chức có năng lực hành vi tố tụng hành chính và quyết định đó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân này. Việc ảnh hưởng này phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của chủ thể khởi kiện về tính trái pháp luật của quyết định hành chính, theo đó, khởi kiện là một phương thức hữu hiệu để họ tự bảo về mình. Các cá nhân, tổ chức này tự định đoạt việc khởi kiện thể hiện họ tự tay ký vào đơn khởi kiện chứ không phải do sự ép buộc, cưỡng ép bởi chủ thể khác.

- Thứ ba, quyết định hành chính ấy phải không được rơi vào ba trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 30 gồm quyết định hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực an ninh, quốc phòng, ngoại giao; quyết định của Tòa án liên quan đến áp dụng biện pháp xử lý hành chính, hành vi cản trở hoạt động tố tụng và quyết định hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức.

Hành vi hành chính được xem là đối tượng khởi kiện khi thỏa mãn 03 điều kiện.

- Thứ nhất, đây phải là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước. Hành vi hành chính ấy có thể được thực hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động.

- Thứ hai, tương tự như quyết định hành chính, hành vi này phải bị kiện bởi cá nhân, cơ quan, tổ chức có năng lực hành vi tố tụng hành chính đầy đủ và nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Chúng ta có thể hiểu rằng sự ảnh hưởng đó chính là ảnh hưởng tiêu cực đến các chủ thể bị hành vi trực tiếp xâm phạm, có sự xâm phạm mới có thể khởi kiện. Tuy nhiên, sự ảnh hưởng này cũng phụ thuộc chủ quan vào ý chí của các chủ thể, do đó có nhiều trường hợp hành vi đó là đúng nhưng vẫn bị khởi kiện. Sự khởi kiện này là do các cá nhân, tổ chức đó định đoạt việc kiện, tự nguyện ký vào đơn kiện.

- Thứ ba, cũng như quyết định hành chính, không phải tất cả các hành vi hành chính đều được khởi kiện mà theo khoản 1 Điều 30 những hành vi hành chính có nội dung như những quyết định hành chính không được khởi kiện, thì những hành vi hành chính đó cũng không được khởi kiện.

Quyết định kỷ luật buộc thôi việc là quyết định bằng văn bản của người đứng đầu cơ quan, tổ chức để áp dụng hình thức kỷ luật buộc thôi việc đối với công chức thuộc quyền quản lý của mình. Công chức là những người được quy định cụ thể tại Luật Cán bộ, công chức 2010, việc người đứng đầu cơ quan tổ chức áp dụng biện pháp kỷ luật buộc thôi việc là biện pháp nghiêm khắc nhất đối với họ, do vậy pháp luật trao cho họ quyền được khởi kiện bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Tuy nhiên, công chức chỉ được “khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức giữ chức vụ từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống”. Như vậy, chỉ những quyết định của Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống thì mới là điều cần cần và đủ để Tòa có thể xem xét đơn kiện và có thể thụ lý đơn của người đi kiện.

Quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh: Đây là một đối tượng mới của khởi kiện bao gồm quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Hội đồng cạnh tranh và quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng Bộ Công thương.

Danh sách cử tri: Đây cũng là một đối tượng khởi kiện mới được quy định tại Luật TTHC năm 2015 bao gồm danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, danh sách cử tri trưng cầu ý dân.

Bên cạnh đó, theo Luật Kiểm toán Nhà nước 2015 thì đối tượng khởi kiện vụ án hành chính còn là quyết định giải quyết khiếu nại của Tổng Kiểm toán Nhà nước. Ngoài ra theo Điều 116 Luật TTHC về thời hiệu khởi kiện, thì đối tượng khởi kiện còn có thể là quyết định giải quyết khiếu nại lần 1 hoặc lần 2.

3.3. Về phương thức khởi kiện

- Nếu đối tượng khởi kiện là quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc thì theo khoản 1 Điều 115 Luật TTHC, thì cá nhân, tổ chức được lựa chọn một trong 3 cách sau:

+ Khởi kiện ngay khi nhận được quyết định hành chính, hoặc bị hành vi hành chính xâm hại

+ Khởi kiện khi nhận được Quyết định giải quyết khiếu nại lần 1 mà không đồng ý hoặc hết thời gian giải quyết khiếu nại lần 1 mà không được giải quyết.

+ Khởi kiện khi nhận được Quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 mà không đồng ý hoặc hết thời gian giải quyết khiếu nại lần 2 mà không được giải quyết.

- Nếu đối tượng khởi kiện là quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh thì theo khoản 2 Điều 115 cá nhân, tổ chức chỉ có quyền khởi kiện quyết định này mà không có quyền khiếu nại.

- Nếu đối tượng khởi kiện là danh sách cử tri thì theo khoản 3 Điều 115, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án về danh sách cử tri trong trường hợp đã khiếu nại với cơ quan có thẩm quyền giải quyết, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết, nhưng không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại đó.

Như vậy, quy định này của pháp luật mang tính mở, tạo cho người dân được lựa chọn nhiều phương thức khởi kiện hơn, tuy nhiên với đối tượng khởi kiện là danh sách cử tri mặc dù pháp luật tạo điều kiện để bảo vệ quyền lợi cho người dân nhưng trên thực tế điều kiện này rất khó và dường như thắt chặt quyền khởi kiện của người dân về vấn đề này.

3.4. Về thời hiệu khởi kiện

Thời hiệu khởi kiện vụ hành chính được quy định tại Điều 116 Luật TTHC năm 2015. Theo đó, thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà cơ quan, tổ chức, cá nhân được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án hành chính bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện. Thời hiệu khởi kiện đối với từng trường hợp được quy định như sau: 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc; 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh; từ ngày nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri hoặc kết thúc thời hạn giải quyết khiếu nại mà không nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri đến trước ngày bầu cử 05 ngày.

Cách xác định thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính, thời điểm tính thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính được quy định khá cụ thể và chi tiết tại Luật TTHC 2015. Tuy nhiên, theo quy định về thời hiệu khởi kiện đối với quyết định giải quyết khiếu nại là 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc lần thứ 2 thì thực tế đặt ra vấn đề: Nếu trường hợp nhận được quyết định giải quyết khiếu nại mà không muốn khởi kiện quyết định giải quyết khiếu nại, chỉ muốn khởi kiện quyết định hành chính (giải quyết vụ việc ban đầu) thì thời điểm tính thời hiệu có được tính từ khi nhận được quyết định giải quyết khiếu nại hay không? Đây cũng là vấn đề cần được giải thích chính thức bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tránh tình trạng mất quyền khởi kiện vì hết thời hiệu khởi kiện. Nếu như Luật TTHC năm 2010 quy định Tòa sẽ trả lại đơn kiện khi thời hiệu khởi kiện đã hết mà không có lý do chính đáng còn Luật TTHC năm 2015 thì không quy định trực tiếp nên về vấn đề Thẩm phán xác định thời hiệu khởi kiện đã hết là căn cứ xử lý đơn khởi kiện hay không có hai quan điểm. Một là, Tòa án vẫn tiến hành thụ lý vụ án theo thủ tục chung sau đó ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 143 Luật TTHC năm 2015. Hai là, Tòa sẽ trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện. Cho nên để đảm bảo việc áp dụng thống nhất pháp luật, Hội đồng Thẩm phán TANDTC cần sớm ban hành Nghị quyết hướng dẫn về vấn đề này.

Do Luật TTHC năm 2015 không quy định khái quát và tập trung các điều kiện khởi kiện vào một điều luật cụ thể, và có những nội dung bị quy định trùng lặp nên trong thực tế diễn ra nhiều trường hợp các nhân, tổ chức bị mất quyền khởi kiện vì những lí do không đáng xảy ra, hoặc việc thực hiện quyền khởi kiện trở nên phức tạp và tốn thời gian, công sức một cách không cần thiết. Trong thực tiễn người có quyền khởi kiện vụ án hành chính lại thường ủy quyền cho văn phòng luật sư. Sau đó văn phòng luật sư làm nhiệm vụ cử Luật sư chuyên trách thay mặt cho khách hàng của mình thực hiện việc khởi kiện theo ủy quyền và đã kí vào đơn khởi kiện. Điều đó không được Tòa án chấp nhận, căn cứ theo Điều 118, Điều 123 và kết quả là vụ án không được thụ lí. Về điều kiện khởi kiện, Luật TTHC năm 2015 cũng có ưu điểm là hạn chế được trường hợp cá nhân, tổ chức bị mất quyền khởi kiện do có liên quan đến quá trình giải quyết vụ việc của cơ quan hành chính nhà nước. Cụ thể, thông thường khi mà đã giải quyết khiếu nại lần hai lên cấp trên, thì người khiếu nại thường đợi kết quả trả lời mới đi khởi kiện mà không nghĩ đến thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính. Luật TTHC năm 2015 đã xác định quyết định giải quyết khiếu nại cũng là loại việc được khởi kiện hành chính và thời hiệu khởi kiện được tính là 01 năm kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại hoặc kể từ ngày hết hạn mà không nhận được giải quyết khiếu nại. Do đó, đã hạn chế được trường hợp cá nhân, tổ chức bị mất quyền khởi kiện do chậm trễ giải quyết khiếu nại.

4. Sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định có hiệu lực của Tòa

Theo quy định của pháp luật, nếu sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án rồi thì các đương sự chỉ có thể yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm chứ không được quyền tiếp tục khởi kiện vụ án hành chính.

Quy định này của pháp luật hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa tại Điều 8, Điều 12 Hiếp pháp 2013 và phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa tại khoản 2 Điều 2 theo đó “bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”.

5. Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa

Tòa án trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình chỉ có thể giải quyết các khiếu kiện hành chính được pháp luật quy định. Điều 30 Luật TTTHC quy định về các khiếu kiện không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án như sau:

- Quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo quy định của pháp luật. Đây là những quyết định mang tính chất bí mật, tuyệt mật nên nếu khởi kiện sẽ dẫn đến việc những quyết định hành chính, hành vi hành chính đó không còn là bí mật nữa. Điều này hoàn toàn phù hợp với các quy định trong Luật Bảo vệ bí mật nhà nước 2018.

- Quyết định, hành vi của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính, xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng. Quy định như vậy là để tôn trọng cũng như đảm bảo cho quá trình tố tụng của Tòa án diễn ra thuận lợi.

- Quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức. Chỉ khi nào đó là quyết định, hành vi buộc thôi việc thì chủ thể bị ảnh hưởng mới có quyền khởi kiện ra tòa còn không thì sẽ giao cho nội bộ cơ quan đó tự giải quyết. Quy định này một mặt tôn trọng công việc nội bộ trong cơ quan, tổ chức đó; giảm áp lực lên ngành Tòa án nhưng mặt khác vô tình cũng khiến quyền lợi của người lao động bị ảnh hưởng do họ bị chính những người đã ra các quyết định, hành vi gây bất lợi cho họ xử lý khiếu nại của họ.

6. Người khởi kiện lựa chọn giải quyết vụ việc theo thủ tục giải quyết khiếu nại

Thứ nhất, trường hợp người khởi kiện có đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án có thẩm quyền, đồng thời có đơn khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì Tòa án phải yêu cầu người khởi kiện lựa chọn cơ quan giải quyết. Trường hợp người khởi kiện lựa chọn người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại giải quyết thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo cho người khởi kiện.

Thứ hai, trường hợp có nhiều người vừa khởi kiện vụ án hành chính tại tòa án có thẩm quyền, đồng thời có đơn khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, trong đó có người lựa chọn Tòa án giải quyết, có người lựa chọn người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33.

Thứ ba, trường hợp người khởi kiện không chọn cơ quan nào để giải quyết thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện.

Nếu như trước đây, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính quy định trường hợp người khởi kiện vừa khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại vừa nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án thì thẩm quyền giải quyết sẽ thuộc Tòa án (Điều 13) thì LTTHC 2010 và 2015 quy định thẩm quyền giải quyết sẽ theo sự lựa chọn của người khởi kiện. Việc này phù hợp với trình tự khiếu nại được quy định trong Luật Khiếu nại 2011 theo đó trong cùng 1 giai đoạn và dù ở bất cứ giai đoạn nào thì việc khiếu nại hành chính và khởi kiện ra Tòa hành chính không bao giờ được thực hiện đồng thời bởi nếu làm vậy sẽ chỉ làm kéo dài thời gian giải quyết vụ việc cho nên chủ thể bị xâm phạm chỉ có thể lựa chọn một trong hai loại thủ tục trên để giải quyết vụ việc. Quy định này cũng chủ động tạo điều kiện cho người khởi kiện tự do lựa chọn cơ quan có thẩm quyền giải quyết nhằm bảo đảm tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

7. Đơn khởi kiện không có đủ nội dung

Nếu đơn khởi kiện không có đủ các nội dung theo quy định thì Toà án sẽ thông báo cho người khởi kiện biết để họ sửa đổi, bổ sung và thời hạn sửa đổi, bổ sung là 10 ngày làm việc, kể từ ngày người khởi kiện nhận được thông báo của Toà án. Trong trường hợp người khởi kiện đã sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo đúng nội dung quy định trên thì Toà án tiếp tục việc thụ lý vụ án. Còn trường hợp, không sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu của Toà án thì Toà án trả lại đơn khởi kiện và tài liệu kèm theo cho người khởi kiện. Ví dụ đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị A về quyết định thu hồi đất trái pháp luật không gửi kèm theo đơn các tài liệu chứng minh cho yêu cầu của bà là có căn cứ và hợp pháp. Tuy nhiên sau khi nhận được thông báo bổ sung đơn khởi kiện của tòa án, bà A vẫn không nộp thêm bất kỳ một loại giấy tờ nào khác chứng minh cho quyết định thu hồi đất của xã là trái pháp luật. Vì vậy trong trường hợp này tòa sẽ trả lại đơn khởi kiện của bà vì cho rằng vụ việc không có căn cứ pháp lý đầy đủ để giải quyết.

Quy định này là hợp lý, nó đảm bảo cho việc giải quyết một cách chính xác vụ án hành chính bởi đó đều là các nội dụng cơ bản để giải quyết được vụ án như ngày, tháng, năm làm đơn; nội dung của đối tượng khởi kiện; thông tin của người khởi kiện, người bị kiện;…

8. Người khởi kiện không xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí cho Tòa

Đây là trường hợp “sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo cho người khởi kiện biết để họ nộp tiền tạm ứng án phí; trường hợp người khởi kiện được miễn nộp tạm ứng án phí hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì thông báo cho người khởi kiện biết về việc thụ lý vụ án đó. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp biên laic ho Tòa”. Như vậy nếu hết thời hạn 10 ngày sau khi nhận được thông báo về việc nộp tiền tạm ứng án phí mà người khởi kiện không xuất trình biên lai cho Tòa thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện. Tạm ứng án phí gồm có tạm ứng án phí sơ thẩm và tạm ứng án phí phúc thẩm. Mức tạm ứng án phí là 300.000 đồng/hồ sơ/vụ việc. Tuy nhiên cũng căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH2014 của Uỷ ban thường vụ ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, có một số trường hợp người khởi kiện sẽ không phải xuất trình biên lai đó là được miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo khoản 1 Điều 12 Nghị định này; các trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng án phí theo khoản 1 Điều 11 Nghị định này và các trường hợp có lý do chính đáng.

Có thể thấy việc quy định Tòa trả lại đơn kiện trong trường hợp này là hợp lý bởi Tòa có trách nhiệm thụ lý đơn khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện thì đối lại họ phải trả cho Tòa án một mức phí để Tòa có thể thực hiện được nhiệm vụ đó. Tuy nhiên cần quy định cụ thể các trường hợp có lý do chính đáng được miễn nghĩa vụ nộp án phí để việc thực hiện được diễn ra thống nhất giữa các Tòa, cũng như là tạo thuận lợi và công bằng cho những người khởi kiện.

Ngoài ra, để đảm bảo tính công khai, minh bạch thì khi trả lại đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện Thẩm phán phải có văn bản ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện. Văn bản trả lại đơn khởi kiện được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp. Đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ mà Thẩm phán trả lại cho người khởi kiện phải được sao lại và lưu lại tại tòa án để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu. Trên thực tế có rất nhiều trường hợp Tòa án đã trả lại đơn kiện trái với quy định của pháp luật. Chính vì vậy, Luật cũng quy định đương sự có quyền khiếu nại về việc trả lại đơn khiếu nại. Theo đó, trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện do Tòa án trả lại, người khởi kiện có quyền khiếu nại với Chánh án Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện.