1. Vấn đề cần phải chứng minh khi tiến hành tố tụng đối với pháp nhân bị buộc tội

Để bảo đảm cho quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại được thực thi trên thực tế, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã được bổ sung một chương mới (Chương XXIX) với 16 điều quy định các vấn đề về thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân. Ngoài những nội dung quy định này, cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thể áp dụng các quy định khác của Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý vụ án pháp nhân phạm tội nhưng với điều kiện là các quy định này không trái với tinh thần quy định về thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân tại Chương XXIX Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Theo Điều 441 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì có 05 vấn để cần phải được chứng minh khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử đối với pháp nhân bị buộc tội: 

(1) Có hành vi phạm tội xảy ra hay không; thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội thuộc trách nhiệm hình sự của pháp nhân theo quy định của Bộ luật hình sự; 

(2) Lỗi của pháp nhân và của cá nhân là thành viên của pháp nhân đó; 

(3) Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội của pháp nhân gây ra; 

(4) Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết khác liên quan đến miễn hình phạt; 

(5) Nguyên nhân và điều kiện phạm tội.

 

2. Có hành vi phạm tội xảy ra hay không?

Có hành vi phạm tội xảy ra hay không; thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội thuộc trách nhiệm hình sự của pháp nhân theo quy định của Bộ luật hình sự là vấn đề thứ nhất cần được chứng minh.

Việc chứng minh vấn đề này cho phép khẳng định hành vi phạm tội có xảy ra trên thực tế hay không, các tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội như thời gian, địa điểm, diễn biến, công cụ, phương tiện phạm tội…như thế nào. Đây là những dấu hiệu thuộc khách thể và mặt khách quan của tội phạm.

Hành vi phạm tội là một trong những dấu hiệu quan trọng để nhận biết tội phạm, phân loại tội phạm theo bộ luật hình sự, dựa theo mức độ khác nhau của hành vi phạm tội mà cơ quan có thẩm quyền có thể đưa ra hình phạt thích đáng nhất.

Hành vi phạm tội là những hành vi được thực hiện bằng hành động hoặc không hành động, thỏa mãn những dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định trong bộ luật hình sự cụ thể theo từng loại tội phạm, hành vi phạm tội là những hành vi trái với quy định của pháp luật, hành vi phạm tội bao gồm dấu hiệu chủ thể, mặt chủ quan, mặt khách quan để cấu thành tội phạm.

 

3. Lỗi của pháp nhân và của cá nhân là thành viên của pháp nhân đó

Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 bổ sung chủ thể thực hiện tội phạm là “Pháp nhân thương mại”. Tuy nhiên, pháp nhân thương mại lại không phải là chủ thể của mọi tội phạm, mà theo quy định tại Điều 76 BLHS 2015 thì pháp nhân thương mại chỉ là chủ thể của 33 tội phạm.

Điều 8 BLHS 2015  quy định:

“Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý,…”. 

Từ khái niệm trên, ta có thể xác định nguyên tắc chung khi xác định các đặc điểm của tội phạm sẽ bao gồm 04 yếu tố sau:

(1) Là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS.

(2) Xâm phạm đến các mối quan hệ được quy định tại Bộ luật hình sự bảo vệ.

(3) Do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện.

(4) Yếu tố có lỗi.

Như vậy, theo định nghĩa tội phạm tại Điều 8 thì các nhà lập pháp đã xác định pháp nhân thương mại PHẢI CÓ LỖI mới được coi là chủ thể tội phạm (trong đó, lỗi được coi là trạng thái tâm lý bên trong chủ thể vi phạm pháp luật).

Tuy nhiên, theo định nghĩa về các hình thức “lỗi” tại Điều 10, 11 BLHS 2015 chỉ đề cập đến yếu tố lỗi của người phạm tội mà không đề cập đến lỗi của pháp nhân thương mại thực hiện hành vi phạm tội.

Hoạt động của một pháp nhân được thực hiện dựa trên sự phân công trách nhiệm, nhiệm vụ, thẩm quyền theo uỷ quyền của pháp nhân. Hay nói cách khác, trong hoạt động của pháp nhân, các cá nhân thực hiện công việc chính chính là do sự uỷ quyền của pháp nhân. Để có pháp nhân thương mại có thể chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của cá nhân thì phải có đủ các điều kiện:

+ Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại;

+ Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại;

+ Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại;

+ Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của BLHS này.

Ngoài ra, việc pháp nhân thương mại đã chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm đã không loại trừ việc cá nhân có lỗi chịu trách nhiệm hình sự về sự việc đã xảy ra (khoản 2 Điều 75).

Một cách tổng quát, những người hoạt động nhân danh pháp nhân và vì lợi ích của pháp nhân có lỗi vì thế đương nhiên lỗi do các cá nhân được phân công thực hiện công việc cho pháp nhân sẽ bị coi là lỗi của pháp nhân và chính pháp nhân phải chịu trách nhiệm về lỗi đó. Mặt khác, tính có lỗi của pháp nhân ở đây được xác định do pháp nhân hoàn toàn có thể biết trước và điều khiển hành vi cũng như hậu quả của hành vi do người mà mình đã trao trách nhiệm thực hiện. Trong trường hợp này, việc xác định lỗi không còn việc xác định lỗi trong trường hợp cụ thể xảy ra khi diễn ra hoạt động trái pháp luật của cá nhân nữa và có quan điểm cho rằng trong hành vi phạm tội của pháp nhân thì không cần xác định lỗi (chứ không phải là không có lỗi) được coi là hợp lý, vì rằng trong những trường hợp đó, pháp nhân đương nhiên bị coi là có lỗi và các cơ quan tố tụng hình sự không cần phải chứng minh lỗi của pháp nhân.

Vấn đề nữa cần xác định, đó chính là lỗi của pháp nhân là lỗi cố ý hay vô ý. Trong BLHS 2015 không hề có quy định nào liên quan đến việc thước đo trách nhiệm pháp lý dựa trên lỗi của pháp nhân là cố ý hay vô ý (đối với cá nhân, khi xác định hình phạt, nếu người phạm tội thực hiện với lỗi cố ý thì dẫn đến hậu quả pháp lý nặng hơn rất nhiều, có khi đây còn là cấu thành tội phạm của nhiều tội danh). Đối với pháp nhân thương mại, mục đích thành lập và hoạt động đương nhiên được xác định là lợi nhuận. Do vậy, việc ủy quyền trong các hoạt động phải xác định được mục đích của sự ủy quyền cụ thể là gì, có phù hợp với các quy định của pháp luật hay không. Đó là căn cứ để xác định lỗi cố ý hay vô ý. Đối với pháp nhân, không cần phải xác định cụ thể lỗi cố ý trực tiếp hay gián tiếp, vô ý do quá tự tin hay do cẩu thả như đối với cá nhân.

 

4. Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt

Sau khi xác định được hành vi phạm tội và người phạm tội, cần làm rõ các tình tiết có ý nghĩa khi quyết định hình phạt đối với bị cáo như luật các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 84 và 85 Bộ luật Hình sự.

Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

a) Đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

b) Tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;

c) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

d) Tích cực hợp tác với các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án;

đ) Có nhiều đóng góp trong việc thực hiện chính sách xã hội.

Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

a) Câu kết với pháp nhân thương mại khác để phạm tội;

b) Cố ý thực hiện tội phạm đến cùng;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;

e) Dùng thủ đoạn tinh vi để phạm tội hoặc nhằm trốn tránh, che giấu tội phạm.

 

5. Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội của pháp nhân gây ra

Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra là vấn đề cần được chứng minh vì tùy từng vụ án mà đây sẽ là tình tiết có ý nghĩa định tội, khung hình phạt, cân nhắc mức hình phạt và/hoặc nhằm giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án. 

Hành vi phạm tội có pháp nhân có thể gây ra các hậu quả như:

+ Hậu quả về tính mạng: Hành vi phạm tội làm chết càng nhiều người thì mức độ nguy hiểm cho xã hội càng cao và ngược lại;

+ Hậu quả về sức khỏe: Hành vi phạm tội gây tổn hại cho sức khỏe của càng nhiều người thì mức độ nguy hiểm cho xã hội càng cao và ngược lại;

+ Hậu quả về tài sản: Hành vi phạm tội gây thiệt hại về tài sản có giá trị càng lớn thì mức độ nguy hiểm cho xã hội càng cao và ngược lại;

+ Hậu quả về môi trường: Hành vi phạm tội gây ra ô nhiễm môi trường càng nghiêm trọng thì mức độ nguy hiểm cho xã hội càng cao và ngược lại;

 

6. Nguyên nhân và điều kiện phạm tội

- Nguyên nhân: Hiện tượng làm nảy sinh ra hiện tượng khác, trong quan hệ với hiện tượng khác đó.

+ Căn cứ vào mức độ tác động của nguyên nhân trong việc làm phát sinh tội phạm, có thể chia nguyên nhân thành nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu.

Nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh tội phạm là những nhân tố đóng vai trò chủ chốt trong việc làm phát sinh tội phạm và những nhân tố này chiếm tỉ trọng đáng kể trong tổng số các nhân tố làm phát sinh tội phạm.

Nguyên nhân thứ yếu làm phát sinh tội phạm là những nhân tố chỉ đóng vai trò hạn chế trong việc làm phát sinh 101 phạm và những nhân tố này chiếm tỉ trọng không đáng kể trong tổng số các nhân tố làm phát sinh tội phạm.

+ Căn cứ vào nguồn gốc xuất hiện, có thể chia nguyên nhân của tội phạm thành nguyên nhân bắt nguồn từ môi trường sống và nguyên nhân xuất phát từ phía người phạm tội.

Nguyên nhân bắt nguồn từ môi trường sống là tổng hợp các nhân tố tiêu cực được hình thành từ môi trường sống của cá nhân có thể tác động, ảnh hưởng đến cá nhân ở mức độ nhất định mà từ đó làm phát sinh tội phạm. Ví dụ như các nhân tố: môi trường gia đình không hoàn thiện, môi trường nơi cư trú có nhiều tệ nạn xã hội...

Nguyên nhân xuất phát từ phía người phạm tội là tổng hợp những nhân tố tiêu cực thuộc về nhân thân người phạm tội có thể tác động, ảnh hưởng, dẫn đến việc làm phát sinh tội phạm của người phạm tội. Những nhân tố tiêu cực này có thể là các yếu tố thuộc về sinh học, tâm lí, xã hội-nghề nghiệp của người phạm tội

- Điều kiện: Cái cần phải có để cho một cái khác có thể có hoặc có thể xảy ra.

Điều kiện của tội phạm là Những yếu tố làm cho tội phạm nảy sinh và nảy sinh trở lại, tiếp tục tồn tại hoặc phát triển, làm cho tội phạm ngày càng phổ biến, nghiêm trọng. Các điều kiện đó thường là: pháp chế, kỉ cương không nghiêm; công tác kiểm tra, giám sát, kiểm kê, kiểm sát không nhạy bén, kém hiệu lực; môi trường đạo đức nhân văn sa sút; chế độ trách nhiệm cá nhân không rõ ràng, thưởng phạt thiếu nghiêm minh.

Hiện nay, pháp luật chưa có quy định hướng dẫn cụ thể về mục đích của việc xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội. Tuy nhiên, có thể cho rằng pháp luật hình sự yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh nguyên nhân và điều kiện phạm tội là bởi vì: 

- Thứ nhất, nguyên nhân và điều kiện phạm tội là căn cứ để cơ quan tiến hành tố tụng xem xét giải quyết toàn diện vụ án trong đó có khía cạnh xã hội học, tức là tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội, phục vụ cho việc ban hành chính sách pháp luật của nhà nước trong việc phòng, chống tội phạm.

- Thứ hai, nguyên nhân và điều kiện phạm tội cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xem xét trách nhiệm hình sự, mức hình phạt và mức bồi thường thiệt hại khi xem xét giải quyết vụ án hình sự. 

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)