Theo Điều 9 Luật Công chứng 2024 quy định các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động công chứng. Việc ghi nhận cụ thể những hành vi này không chỉ nhằm xử lý vi phạm khi xảy ra, mà còn mang ý nghĩa phòng ngừa, cảnh báo và định hướng hành vi đúng đắn cho công chứng viên cũng như các tổ chức hành nghề công chứng. Thông qua đó, pháp luật khẳng định yêu cầu cao về tính liêm chính, khách quan và trách nhiệm nghề nghiệp của công chứng viên.

Quy định về các hành vi bị nghiêm cấm còn góp phần bảo đảm sự minh bạch và lành mạnh của môi trường hành nghề công chứng, tránh tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, môi giới trái phép, thông đồng làm sai lệch nội dung giao dịch hoặc lợi dụng vị trí nghề nghiệp để trục lợi. Đồng thời, đây cũng là cơ sở pháp lý để cơ quan quản lý nhà nước thực hiện việc thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm, qua đó củng cố kỷ cương trong lĩnh vực công chứng.

1. Các hành vi nghiêm cấm công chứng viên thực hiện 

Theo khoản 1 điều 9 Luật công chứng 2024 sửa đổi bổ sung khoản 2 điều 114 Luật thi hành án dân sự 2025 có hiệu lực từ 1/7/2026, nghiêm cấm công chứng viên thực hiện các hành vi sau đây: 

- Tiết lộ thông tin về nội dung công chứng, trừ trường hợp được người yêu cầu công chứng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác; sử dụng thông tin về nội dung công chứng để xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, quyền và lợi ích của Nhà nước;

- Thực hiện công chứng trong trường hợp mục đích, chủ thể hoặc nội dung của giao dịch vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội; xúi giục, tạo điều kiện cho người tham gia giao dịch thực hiện giao dịch giả tạo hoặc hành vi gian dối khác;

- Công chứng giao dịch có liên quan đến tài sản, lợi ích của bản thân mình hoặc của người thân thích là vợ hoặc chồng; cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi; cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi của vợ hoặc chồng; con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể; ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; anh ruột, chị ruột, em ruột; anh ruột, chị ruột, em ruột của vợ hoặc chồng; cháu là con của con đẻ, con nuôi;

- Sách nhiễu, gây khó khăn cho người yêu cầu công chứng; nhận, đòi hỏi tiền hoặc lợi ích khác từ người yêu cầu công chứng ngoài phí công chứng, phí, giá dịch vụ theo yêu cầu liên quan đến việc công chứng và chi phí khác đã được xác định, thỏa thuận; nhận, đòi hỏi tiền hoặc lợi ích khác từ người thứ ba để thực hiện hoặc không thực hiện việc công chứng;

- Ép buộc cá nhân, tổ chức sử dụng dịch vụ của mình; cấu kết, thông đồng với cá nhân, tổ chức làm sai lệch nội dung của hồ sơ yêu cầu công chứng, hồ sơ công chứng;

- Chi tiền hoặc lợi ích khác, gây áp lực, đe dọa hoặc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội để giành lợi thế trong việc công chứng;

- Quảng cáo trên phương tiện thông tin đại chúng về công chứng viên và tổ chức hành nghề công chứng;

- Đồng thời hành nghề tại 02 tổ chức hành nghề công chứng trở lên; đồng thời là Thừa thành viên, luật sư, đấu giá viên, quản tài viên, tư vấn viên pháp luật, thẩm định viên về giá; làm việc theo hợp đồng làm việc hoặc hợp đồng lao động tại doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, cơ quan, tổ chức khác hoặc tham gia công việc mà thường xuyên phải làm việc trong giờ hành chính;

- Tham gia quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã ngoài tổ chức hành nghề công chứng; thực hiện hoạt động môi giới, đại lý hoặc tham gia chia lợi nhuận trong giao dịch mà mình công chứng; thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ ngoài phạm vi hoạt động công chứng, chứng thực;

- Cho người khác sử dụng quyết định bổ nhiệm công chứng viên, thẻ công chứng viên của mình;

- Đầu tư toàn bộ hoặc góp vốn với công chứng viên khác để thành lập, nhận chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp của toàn bộ thành viên hợp danh của Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo loại hình công ty hợp danh mà không tham gia hợp danh vào Văn phòng công chứng đó; góp vốn, nhận góp vốn, hợp tác với tổ chức, cá nhân không phải là công chứng viên để thành lập, nhận chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp của toàn bộ thành viên hợp danh của Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo loại hình công ty hợp danh; đầu tư để thành lập hoặc mua Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân mà không làm Trưởng Văn phòng công chứng đó.

Tóm lại, việc quy định rõ ràng và toàn diện các hành vi bị nghiêm cấm đối với công chứng viên không chỉ nhằm ràng buộc trách nhiệm pháp lý mà còn đặt ra chuẩn mực đạo đức và giới hạn nghề nghiệp nghiêm ngặt. Những quy định này tạo nên một cơ chế phòng ngừa hiệu quả trước nguy cơ lạm quyền, xung đột lợi ích, tiêu cực và thương mại hóa hoạt động công chứng. Qua đó, bảo đảm công chứng viên hành nghề với sự độc lập, khách quan, liêm chính; giữ vững uy tín của nghề; đồng thời bảo vệ an toàn pháp lý cho các giao dịch và củng cố niềm tin của xã hội đối với hoạt động công chứng.

2. Các hành vi nghiêm cấm tổ chức hành nghề công chứng thực hiện 

Theo khoản 2 điều 9 Luật Công chứng 2024 sửa đổi bổ sung khoản 2 điều 114 Luật thi hành án dân sự 2025 có hiệu lực từ 1/7/2026, Nghiêm cấm tổ chức hành nghề công chứng thực hiện các hành vi sau đây:

- Thực hiện các hành vi quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, g, i và l khoản 1 Điều này. Cụ thể: 

  • Tiết lộ thông tin về nội dung công chứng, trừ trường hợp được người yêu cầu công chứng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác; sử dụng thông tin về nội dung công chứng để xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, quyền và lợi ích của Nhà nước;
  • Thực hiện công chứng trong trường hợp mục đích, chủ thể hoặc nội dung của giao dịch vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội; xúi giục, tạo điều kiện cho người tham gia giao dịch thực hiện giao dịch giả tạo hoặc hành vi gian dối khác;
  • Sách nhiễu, gây khó khăn cho người yêu cầu công chứng; nhận, đòi hỏi tiền hoặc lợi ích khác từ người yêu cầu công chứng ngoài phí công chứng, phí, giá dịch vụ theo yêu cầu liên quan đến việc công chứng và chi phí khác đã được xác định, thỏa thuận; nhận, đòi hỏi tiền hoặc lợi ích khác từ người thứ ba để thực hiện hoặc không thực hiện việc công chứng;
  • Ép buộc cá nhân, tổ chức sử dụng dịch vụ của mình; cấu kết, thông đồng với cá nhân, tổ chức làm sai lệch nội dung của hồ sơ yêu cầu công chứng, hồ sơ công chứng;
  • Chi tiền hoặc lợi ích khác, gây áp lực, đe dọa hoặc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội để giành lợi thế trong việc công chứng;
  • Quảng cáo trên phương tiện thông tin đại chúng về công chứng viên và tổ chức hành nghề công chứng;
  • Tham gia quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã ngoài tổ chức hành nghề công chứng; thực hiện hoạt động môi giới, đại lý hoặc tham gia chia lợi nhuận trong giao dịch mà mình công chứng; thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ ngoài phạm vi hoạt động công chứng, chứng thực;

- Mở chi nhánh, văn phòng đại diện, cơ sở, địa điểm giao dịch khác ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng;

- Cho người không đủ điều kiện hành nghề công chứng hoặc công chứng viên đang bị tạm đình chỉ hành nghề công chứng thực hiện việc công chứng, chứng thực tại tổ chức mình;

- Cho công chứng viên thực hiện việc công chứng, chứng thực tại tổ chức mình khi tổ chức hành nghề công chứng bị thu hồi quyết định cho phép thành lập.

Tóm lại, việc nghiêm cấm các hành vi nêu trên đối với tổ chức hành nghề công chứng nhằm bảo đảm hoạt động công chứng được thực hiện đúng chức năng, đúng phạm vi và đúng chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp; ngăn chặn tình trạng lạm quyền, thương mại hóa, cạnh tranh không lành mạnh hoặc hợp thức hóa các giao dịch trái pháp luật. Những quy định này góp phần giữ vững tính độc lập, khách quan và minh bạch của tổ chức hành nghề công chứng, qua đó bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và củng cố niềm tin của xã hội đối với thiết chế công chứng.

3. Các hành vi nghiêm cấm cá nhân, tổ chức thực hiện 

Theo khoản 3 điều 9 Luật công chứng 2024, Nghiêm cấm cá nhân, tổ chức thực hiện các hành vi sau đây:

- Giả mạo công chứng viên, người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch;

- Cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật; tiết lộ hoặc sử dụng thông tin mà mình biết được trong hoạt động công chứng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này; sử dụng giấy tờ, văn bản giả mạo hoặc bị tẩy xóa, sửa chữa trái pháp luật để yêu cầu công chứng hoặc để đề nghị bổ nhiệm, bổ nhiệm lại công chứng viên;

- Có hành vi gian dối, không trung thực trong quá trình yêu cầu công chứng, làm chứng, phiên dịch;

- Cản trở hoạt động công chứng; từ chối cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ việc công chứng trái quy định của pháp luật; từ chối thực hiện thủ tục pháp lý liên quan đến giao dịch được công chứng mà không có căn cứ pháp lý;

- Cá nhân không phải là công chứng viên, tổ chức không phải là tổ chức hành nghề công chứng thực hiện các hành vi sau: đầu tư toàn bộ, góp vốn, nhận góp vốn, liên kết, hợp tác chia lợi nhuận trong hoạt động công chứng; cung cấp dịch vụ công chứng; đặt tên tổ chức, doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, treo biển quảng cáo hoặc thực hiện hành vi quảng cáo khác có nội dung cung cấp dịch vụ công chứng hoặc nội dung dịch vụ gây nhầm lẫn với dịch vụ công chứng.

Tóm lại, việc nghiêm cấm các hành vi nêu trên đối với cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ tính xác thực, minh bạch và an toàn pháp lý của hoạt động công chứng; ngăn chặn tình trạng giả mạo, gian dối, lợi dụng hoặc can thiệp trái pháp luật vào quy trình công chứng. Đồng thời, các quy định này còn bảo đảm rằng hoạt động công chứng chỉ được thực hiện bởi đúng chủ thể có thẩm quyền, đúng khuôn khổ pháp lý, qua đó giữ gìn trật tự pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch và củng cố niềm tin của xã hội đối với thiết chế công chứng.

Kết luận 

Việc quy định rõ các hành vi bị nghiêm cấm trong Luật Công chứng không chỉ nhằm xử lý vi phạm mà quan trọng hơn là phòng ngừa rủi ro, bảo đảm tính minh bạch và khách quan của hoạt động công chứng. Những quy định này tạo ra “hàng rào pháp lý” cần thiết để bảo vệ người dân, tổ chức khi tham gia giao dịch, đồng thời giữ gìn uy tín, danh dự của nghề công chứng. Trong bối cảnh các giao dịch dân sự ngày càng đa dạng và phức tạp, việc tuân thủ nghiêm túc các quy định cấm là yêu cầu bắt buộc đối với mỗi công chứng viên và tổ chức hành nghề công chứng. Nhận thức đúng và thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật sẽ góp phần xây dựng môi trường pháp lý an toàn, minh bạch và bền vững, qua đó nâng cao niềm tin của xã hội đối với hoạt động công chứng và hệ thống pháp luật nói chung.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900 6162 để được giải đáp.