Mục lục bài viết
1. Khái quát chung về hòa giải tranh chấp đất đai
1.1 Khái niệm hòa giải
Hòa giải cũng được coi là sự tiếp nối của quá trình thương lượng, trong đó các bên cố gắng làm điều hoà những ý kiến bất đồng. Hòa giải có ý nghĩa lớn, nó làm cho những tranh chấp, xung đột, mâu thuẫn, xích mích được dập tắt hoặc không vượt qua giới hạn sự nghiêm trọng, giúp cho các bên tránh được một sự xung đột được giải quyết bằng bạo lực hoặc chiến tranh. Giúp các bên hiểu biết lẫn nhau, giữ gìn cục diện ổn định… Chính vì vai trò to lớn này nên trong quy định pháp luật, các nước thường đặt ra vấn đề hòa giải trong giải quyết các tranh chấp.
Mâu thuẫn, xung đột lợi ích, vi phạm quy tắc chung, vi phạm cam kết là điều khó tránh khỏi trong các mối quan hệ xã hội. Có hai hình thức cơ bản để giải quyết bất đồng, mâu thuẫn xảy ra giữa các bên là trong tố tụng (cơ quan nhà nước có thẩm quyền – Tòa án đứng ra giải quyết theo quy định của pháp luật) và ngoài tố tụng (các bên tự thương lượng, thỏa thuận với nhau hoặc nhờ bên thứ ba can thiệp như trọng tài, hòa giải, đánh giá trung lập). Ngày nay, xu hướng sử dụng các biện pháp giải quyết tranh chấp ngoài tố tụng ngày càng được coi trọng trên thế giới bởi khắc phục được những điểm yếu của hệ thống tòa án (vì nhiều lý do mà số vụ việc tranh chấp, mâu thuẫn ngày càng tăng trong khi số lượng thẩm phán có hạn, thủ tục tố tụng tại Tòa án phải tuân thủ đúng pháp luật rất phức tạp, mất nhiều thời gian, lại công khai...).
Ở Việt Nam thì việc hòa giải là một hoạt động xuất phát từ truyền thống đoàn kết, hoà hiếu của dân tộc như: "Dĩ hòa vi quý" "Hoà cả làng", "Một điều nhịn, chín điều lành", "Chín bỏ làm mười"… hay thói quen của cộng đồng trong việc giải quyết tranh chấp là không muốn đưa các tranh chấp ra trước các cơ quan tài phán để phán xử như: "Vô phúc đáo tụng đình", vì không muốn "Chuyện bé xé ra to", "Vạch áo cho người xem lưng" mà chủ yếu là "đóng cửa bảo nhau".
Pháp luật của Việt Nam cũng quy định về công tác hòa giải những xích mích, tranh chấp nhỏ trong nội bộ nhân dân bằng công tác hòa giải ở đơn vị cơ sở. Thể chế chủ trương, nghị quyết của Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội đã thông qua nhiều văn bản luật có giá trị pháp lý cao, trong đó có quy định biện pháp hòa giải như một phương thức giải quyết tranh chấp (Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Luật hòa giải ở cơ sở, Luật đất đai, Luật hôn nhân và gia đình...)
Như vậy, hòa giải có thể hiểu là hành vi thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa, là giải quyết các tranh chấp, bất đồng giữa hai hay nhiều bên tranh chấp bằng việc các bên dàn xếp, thương lượng với nhau có sự tham gia của bên thứ ba (không phải là bên tranh chấp), giúp hai bên tranh chấp ngồi lại với nhau để cùng giải quyết vấn đề của họ.
1.2 Khái niệm tranh chấp đất đai
Các nhà khoa học pháp lý đã đưa ra định nghĩa về tranh chấp đất đai như sau: Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai. Theo quan điểm này thì tranh chấp đất đai là một khái niệm có nội hàm tương đối rộng, trong đó, các chủ thể tham gia quan hệ tranh chấp là các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật đất đai bao gồm Nhà nước và người sử dụng đất; đối tượng của tranh chấp đất đai là tất cả những xung đột về lợi ích, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể là Nhà nước và người sử dụng đất.
Trước khi Luật Đất đai 2003 ra đời, thuật ngữ “tranh chấp đất đai” chưa được chính thức giải thích, mà chủ yếu là chỉ được “hiểu ngầm” qua các quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai, quy định về giải quyết các tranh chấp khác có liên quan đến quyền sử dụng đất. Tranh chấp đất đai bao gồm tất cả các tranh chấp phát sinh từ quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Trong đó có cả các tranh chấp tài sản gắn liền với đất, tranh chấp hợp đồng giao dịch quyền sử dụng đất. Kế thừa từ khái niệm “Tranh chấp đất đai” năm 2003, tại khoản 24, Điều 3 Luật Đất đai 2013 (Thay thế bởi: Luật đất đai năm 2024) quy định: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đai giữa hai hay nhiều bên trong quan hệ đất đai”.
Hiện nay có những trường hợp tranh chấp đất đai thường gặp như: Tranh chấp đất giữa người sử dụng hợp pháp với cá nhân khác; tranh chấp đất giữa người sử dụng hợp pháp với Nhà nước (vấn đề bồi thường đất); tranh chấp đất giữa những người sử dụng chung đất, chung các tài sản gắn liền với đất hoặc về quyền, nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất...; tranh chấp đất giữa hai cá nhân chưa xác định được ai là người sử dụng hợp pháp.
Như vậy, tranh chấp đất đai là một hiện tượng xã hội xảy ra trong bất cứ hình thái kinh tế - xã hội nào. Trong xã hội tồn tại lợi ích giai cấp đối kháng thì tranh chấp đất đai mang mầu sắc chính trị, đất đai luôn là đối tượng tranh chấp giữa giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột. Ở xã hội không tồn tại mâu thuẫn về lợi ích giai cấp đối kháng, tranh chấp đất đai thường là mâu thuẫn về lợi ích kinh tế, quyền và nghĩa vụ của các bên. Việc giải quyết tranh chấp đất đai do các bên tự tiến hành thông qua con đường thương lượng, hòa giải hoặc do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện dựa trên việc áp dụng các quy định của pháp luật.
2. Những yếu tố ảnh hưởng đến hòa giải tranh chấp đất đai
2.1 Yếu tố về con người
Con người luôn là chủ thể của mọi mối quan hệ, chính vì vậy, yêu tố về con người luôn được quan tâm nhất từ xưa đến nay trong công tác hòa giải.
Bàn về yếu tố con người, trước hết nói đến người tiến hành hòa giải; về năng lực, trình độ, kỹ năng hòa giải của cán bộ, công chức tiến hành hòa giải đóng vai trò rất quan trọng trong việc hòa giải, phần lớn quyết định việc hòa giải có thành công hay không. Các cán bộ tiến hành hòa giải phải năng nổ, nhiệt tình, am hiểu phong tục, tập quán địa phương, có kinh nghiệm sống phong phú và có thái độ công tâm, khách quan vì lợi ích cộng đồng.
Trình độ, nhận thức của người được hòa giải (nguyên đơn, bị đơn) cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hòa giải: thuyết phục, giải thích cho người được hòa giải là người có trình độ, có nhận thức, am hiểu pháp luật sẽ khác với người có trình độ thấp, không am hiểu pháp luật. Ví dụ, hòa giải cho người dân là người đồng bào dân tộc thiểu số, trình độ học vấn mới hết tiểu học sẽ khác với một người dân sống ở thành thị, có trình độ học vấn là đại học. Vì vậy, đây cũng chính là một trong những yếu tố mà người tiến hành hòa giải xem xét đến đối tượng hòa giải là ai? Để có hướng đi thích hợp nhất, mang lại chất lượng, hiệu quả trong quá trình hòa giải.
2.2 Yếu tố về điều kiện tự nhiên, môi trường sống
Việc áp dụng hoà giải tranh chấp đất đai có sự khác biệt giữa khu vực nông thôn, miền núi (vùng sâu, vùng xa) và thành thị.
Ở nông thôn, miền núi các mối quan hệ gia đình, dòng họ, làng xóm được người dân rất coi trọng, giữ gìn và bảo vệ. Khi tranh chấp phát sinh, người dân hướng tới hoà giải để giữ gìn tình đoàn kết xóm làng. Hơn nữa, các thiết chế đạo đức, văn hóa, phong tục, tập quán truyền thống chi phối, ảnh hưởng mạnh mẽ đến toàn bộ đời sống của người dân. Trong quá trình hoà giải, áp dụng các tập quán, thiết chế đạo đức này rất hiệu quả trong việc thuyết phục các bên. Tại đây, già làng, trưởng bản và những người học cao được cộng đồng kính trọng, do đó tiếng nói của họ rất có giá trị. Sự tham gia của họ vào quá trình hoà giải là một yếu tố dẫn đến thành công. Không có sự góp mặt của luật sư do không phù hợp với phương pháp hoà giải và do người dân không có thói quen mời luật sư giúp họ giải quyết tranh chấp. Hơn nữa, phần lớn người dân nông thôn không thể chi trả phí thuê luật sư.
Ở khu vực đô thị, hoà giải cũng được dùng để giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở. Công việc này thường được thực hiện bởi một tổ hoà giải, gồm có tổ trưởng dân phố, thành viên của các tổ chức quần chúng như Mặt Trận Tổ Quốc, cán bộ Chi hội Phụ nữ, hội viên Chi hội Người cao tuổi, Hội Cựu chiến binh. Tuy nhiên, tỷ lệ hoà giải thành công tuỳ thuộc vào từng loại tranh chấp. Ví dụ, tranh chấp nhỏ về hàng rào, ngõ chung giữa các hộ gia đình có tỷ lệ hoà giải thành công cao nhất do tính chất đơn giản và tài sản tranh chấp không có giá trị lớn. Đối với những tranh chấp về quyền thừa kế nhà đất, kết quả hoà giải phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Hoà giải thành công khi các thành viên gia đình và những người thừa kế có tinh thần hợp tác và nhường nhịn để đạt được giải pháp hợp lý. Hoà giải không thành công khi các thành viên gia đình và những người thừa kế không có tinh thần hợp tác, bảo thủ, hoặc do tài sản tranh chấp có giá trị quá lớn.
2.3 Yếu tố về pháp lý và công tác quản lý đất đai
Luật đất đai năm 2013, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật đất đai, Luật hòa giải cơ sở, Nghị định 15/2014/NĐ-CP, ngày 27 tháng 02 năm 2014 là những văn bản pháp lý cơ bản nhất quy định về hòa giải và hòa giải tranh chấp đất đai hiện nay.
Một vấn đề được đề cập đến, mang tính định hướng, tính quyết định cho buổi hòa giải diễn ra, căn cứ vào đó HĐHGTCĐĐ sẽ phải lựa chọn “phương án nào” để đưa ra trong buổi hòa giải, vấn đề này chính là “Căn cứ để hòa giải”.
Tranh chấp đất đai trong trường hợp các bên tranh chấp không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai năm 2013 và Điều 18 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, thì việc giải quyết tranh chấp được thực hiện dựa theo các căn cứ sau: “Chứng cứ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất do các bên tranh chấp đất đai đưa ra; thực tế diện tích đất mà các bên tranh chấp đang sử dụng ngoài diện tích đất đang có tranh chấp và bình quân diện tích đất cho một nhân khẩu tại địa phương; sự phù hợp của hiện trạng sử dụng thửa đất đang có tranh chấp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; chính sách ưu đãi người có công của Nhà nước; quy định của pháp luật về giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất”.
Căn cứ pháp lý, đây cũng chính là một trong những yếu tố quan trọng nhất mà Hội đồng hòa giải bắt buộc phải dựa vào để xem xét hòa giải vụ việc theo hướng nào, vừa hợp lý lại hợp tình, mang tính thuyết phục cao, nâng cao hiệu quả, chất lượng cho buổi hòa giải.
Tham khảo thêm một số bài viết pháp lý khác có liên quan đến hoà giảitranh chấp đất đai: