1. Khái niệm nợ, gán nợ

Nợ (debt) là số tiền mà một cá nhân, công ty ... đã vay người khác. Các khoản nợ phát sinh từ việc vay tiền để mua hàng hoá, dịch vụ hoặc tài sản tài chính. Các chứng chỉ nợ là bằng chứng để lấy lại số tiền cho vay, bao gồm cả lãi suất trong thời hạn vay.

Gán nợ là chuyển nghĩa vụ trả nợ của mình đối với người thứ ba sang người có nợ mình hay chuyển giao quyền đòi nợ của mình đối với người thứ ba sang cho người mà mình đang nợ.

 

2. Đối tượng của gán nợ

Gán nợ cũng có thể được hiểu là người có nghĩa vụ trả nợ dùng tài sản của mình để thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với bên kia. Tài sản để thực hiện nghĩa vụ trả nợ phải có giá trị tương đương với nợ mà người đó phải thực hiện, nếu không các bên phải thanh toán cho nhau phần chênh lệch, trừ trường hợp các bên không có quy định khác. Nợ ở đây là nghĩa vụ dân sự mà người có nghĩa vụ phải thực hiện đối với người có quyền và có đối tượng là tài sản được quy định tại Điều 172 Bộ luật dân sự. Công việc phải làm hoặc không được làm cũng là đối tượng của nghĩa vụ dân sự nhưng không phải là đối tượng trong gán nợ. Trong gán nợ, đối tượng áp dụng chỉ có thể là tài sản.

Một trong các phương thức xử lý tài sản đảm bảo là bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm (gán nợ). Vậy, bên bảo đảm ở đây phải đồng thời là bên có nghĩa vụ. Do đó, phương thức xử lý bảo đảm theo thỏa thuận này không áp dụng cho trường hợp một bên thế chấp hay cầm cố tài sản của mình để bảo đảm cho một bên khác vay vốn tại ngân hàng.

 

3. Phương thức xử lý tài sản bảo đảm

Điều 303 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định 3 phương thức xử lý tài sản bảo đảm. Một trong các phương thức xử lý tài sản bảo đảmlà bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm (gán nợ). Vậy, bên bảo đảm ở đây phải đồng thời là bên có nghĩa vụ. Do đó, phương thức xử lý bảo đảm theo thỏa thuận này không áp dụng cho trường hợp một bên thế chấp hay cầm cố tài sản của mình để bảo đảm cho một bên khác vay vốn tại ngân hàng.
Trong trường hợp này, các bên cần quy định các phương thức xử lý tài sản bảo đảmkhác. Trong khi đó, khoản 1 Điều 295 Bộ luật Dân sự năm 2015quy định: “tài sản bảo đảmphải thuộc sở hữu của bên bảo đảm”. Như vậy, Bộ luật Dân sự năm 2015không khẳng định bên bảo đảm phải là bên có nghĩa vụ.
Do đó, bên thứ ba có thể bảo đảm bằng tài sản để thực hiện nghĩa vụ cho bên có nghĩa vụ. Từ đây cho thấy, không có lý do gì mà lại hạn chế quyền của chủ nợ đối với tài sản bảo đảmlà tài sản của bên thứ ba để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ. Vì vậy, cần sửa đổi BLDS theo hướng cho phép sự thỏa thuận về phương thức “gán nợ” đối với cả tài sản của bên thứ ba khi đưa ra bảo đảm.
 

4. Việc giao tài sản bảo đảm để xử lý

Điều 301 Bộ luật Dân sự năm 2015 không quy định quyền thu giữ tài sản bảo đảm của bên nhận bảo đảm và chỉ quy định trường hợp người đang giữ tài sản không giao tài sản thì bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác. Đây là một “bước lùi” về quyền của bên nhận bảo đảm trong pháp luật về giao dịch bảo đảm. Bởi lẽ, khi nhận bảo đảm, bên nhận bảo đảm có quyền xử lý tài sản bảo đảmĐ nếu phát sinh vi phạm của bên có nghĩa vụ và quyền xử lý tài sản này bao gồm cả quyền thu giữ tài sản bảo đảm. Đây là quyền đương nhiên của bên nhận bảo đảm, thiếu quyền này việc xử lý tài sản không khả thi.
Ngoài ra, Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng không cho phép bên nhận bảo đảm khả năng tìm kiếm sự hỗ trợ của các cơ quan công quyền (Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và cơ quan Công an) trong việc thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý trong khi thực tiễn cho thấy, bên nhận bảo đảm (đặc biệt là các ngân hàng thương mại) triển khai khá hiệu quả cơ chế này.
Ở một số nước trên thế giới, thu giữ tài sản bảo đảmlà quyền cơ bản của bên nhận bảo đảm trong xử lý tài sản bảo đảm. Ví dụ, thông qua UCC, các đạo luật và án lệ, Mỹ xây dựng một cơ chế rất hiệu quả để chủ nợ có bảo đảm xử lý tài sản bảo đảmmà không phải khởi kiện ra tòa án, đồng thời cũng bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của người bảo đảm cũng như các chủ thể có liên quan khác.
 

5. Xử lý tài sản đã nhận gán nợ của các ngân hàng thương mại

Có nhiều tổ chức kinh tế (quốc doanh và ngoài quốc doanh) vay vốn Ngân hàng (chủ yếu là từ những năm 1990 trở về trước) do sản xuất kinh doanh kém hiệu quả đã dẫn đến bị thua lỗ, ngừng hoạt động, giải thể hoặc còn hoạt động nhưng không trả được nợ ngân hàng. Để thu hồi nợ, một số ngân hàng thương mại đã dùng vốn kinh doanh mua lại tài sản gán nợ (như nhà ở, nhà làm việc, kho tàng, cửa hàng, khách sạn…) của các tổ chức kinh tế này và sử dụng vào kinh doanh, bán lại hoặc cho thuê.

Việc xử lý như trên đã tạo điều kiện cho các Ngân hàng thương mại thu hồi được một số nợ nhất định. Song ngoài một số tài sản đã được đem bán lại hoặc được sử dụng vào kinh doanh và cho thuê hiệu quả, phần lớn tài sản mà ngân hàng mua lại qua hình thức gán nợ đã không bán được hoặc sử dụng vào việc phục vụ kinh doanh, cho thuê không hiệu quả, làm đọng vốn kinh doanh của các ngân hàng. Ngoài ra, việc hạch toán nguồn vốn này không thống nhất, không đúng tính chất: có ngân hàng hạch toán vào tài khoản tín dụng thuê mua, có ngân hàng hạch toán vào tài khoản phải thu, phải trả.

Để khắc phục thiếu sót và tồn tại trên, nhằm đảm bảo thu hồi được nợ cho vay theo đúng pháp luật, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các ngân hàng thực hiện một số điểm sau đây:

1. Xử lý những tài sản đã nhận gán nợ:

Các ngân hàng có tài sản đã nhận gán nợ (tính đến ngày có chỉ thị này) phải tiến hành phân ra các loại và xử lý như sau:

1.1. Trước hết, cần phải kiểm tra và xác định lại toàn bộ hồ sơ pháp lý, đảm bảo tuân thủ đúng pháp luật, bảo đảm quyền sở hữu của Ngân hàng đối với các tài sản đã mua, đã có từ việc thu hồi vốn vay. Trong quá trình kiểm tra phải kết hợp xem xét trách nhiệm của người chấp nhận tài sản với các tài sản không đủ chất lượng để bán hoặc không bán được.

1.2. Đối với tài sản còn tốt có thể bán được thì phải tìm mọi cách để bán ra thu hồi vốn.

1.3. Tài sản đã đưa vào phục vụ kinh doanh của ngân hàng như dùng làm nhà làm việc, quầy tiết kiệm, cửa hàng vàng bạc phải được hạch toán vào tài sản của Ngân hàng và dùng nguồn vốn thích hợp (hợp pháp) để bù đắp.

1.4. Tài sản là động sản dùng để cho thuê phải chuyển sang cho Công ty cho thuê tài chính của Ngân hàng đó và dùng vốn của Công ty cho thuê tài chính bù đắp. Ở những ngân hàng chưa thành lập Công ty cho thuê tài chính thì được đưa vào tài khoản riêng, và dùng nguồn vốn phù hợp để bù đắp.

1.5. Tài sản hỏng hoặc không thể bán được phải hạch toán riêng, đồng thời phải có phương án xử lý đúng pháp luật và được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

2. Hạch toán kế toán tài sản nhận gán nợ:

Đối với tài sản đã nhận gán nợ của khách hàng do vay vốn ngân hàng nhưng không trả nợ, trong khi chưa xử lý xong, các Ngân hàng thương mại theo dõi vào tài khoản ngoại bảng Bảng tổng kết tài sản – Tài khoản 995 “Tài sản tạm giữ chờ xử lý do thiếu bảo đảm nợ vay TCTD” – theo giá trị tài sản tạm giữ ghi trong biên bản thu giữ tài sản đánh giá.

Sau khi thu giữ, các Ngân hàng thương mại phải có văn bản đề nghị các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tổ chức đấu giá, phát mại tài sản để thu nợ.

Việc hạch toán theo dõi tài sản gán nợ của khách hàng các Ngân hàng thương mại thực hiện như sau:

2.1. Khi thu giữ tài sản của khách hàng do gán nợ, Ngân hàng thương mại căn cứ vào số tiền (giá trị tài sản) ghi trong Biên bản thu giữ tài sản, lập chứng từ hạch toán:

Nhập TK 995 “Tài sản tạm giữ chờ xử lý do thiếu đảm bảo vay nợ TCTD” – theo giá trị tài sản tạm giữ.

2.2. Khi phát mại tài sản gán nợ của khách hàng, ngân hàng thương mại phải thu hồi cả gốc và lãi, và hạch toán:

Nợ TK tiền mặt hay TK thích hợp

Có TK Cho vay hoặc TK Nợ quá hạn – Số tiền gốc.

Có TK 8011 “Thu lãi cho vay” – Số tiền lãi đồng thời ghi Xuất 995 “Tài sản tạm giữ chờ xử lý do thiếu bảo đảm nợ vay TCTD” – theo giá trị tài sản tạm giữ.

2.3. Trường hợp Ngân hàng không bán tài sản gán nợ của khách hàng mà để lại sử dụng, phục vụ cho các hoạt động của mình thì hạch toán:

Nợ TK 702 “Vốn đầu tư XDCB, mua sắm TSCĐ”

hoặc tài khoản thích hợp

Có TK Cho vay thích hợp hoặc TK Nợ quá hạn – số tiền gốc

Có TK 8011“Thu lãi cho vay” – Số tiền lãi đồng thời hạch toán nhập tài sản cố định

Nợ TK 731 “Tài sản cố định”

Có TK 702 “Vốn đầu tư XDCB, mua sắm TSCĐ”

2.4. Các Ngân hàng không được hạch toán tài sản nhận gán nợ của khách hàng vào tài khoản “Tín dụng thuê mua”. Trong trường hợp tài sản này dùng để cho thuê mua thì trước hết các Ngân hàng thương mại xử lý như điểm 2.3, sau đó mới được cho thuê.

3. Hướng thực hiện trong thời gian tới

3.1. Hiện nay, Nhà nước đã ban hành Bộ luật dân sự, Luật Doanh nghiệp Nhà nước, Luật Công ty, Luật phá sản… Trong trường hợp các tổ chức kinh tế vay vốn phải bán tài sản để trả nợ thì các ngân hàng có thể phối hợp với các tổ chức kinh tế đó tổ chức bán tài sản để thu nợ. Các Ngân hàng thương mại thực sự có nhu cầu mua tài sản đó để phục vụ cho kinh doanh và cho Công ty cho thuê tài chính thì có thể mua lại tài sản đó theo đúng quy định của các luật trên.

3.2 Trường hợp người vay (vay có thế chấp, cầm cố) không trả được nợ và người bảo lãnh cũng không trả thay được nợ thì ngân hàng cho vay được phát mại tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh để thu nợ theo Quy định của pháp luật.

Tổng Giám đốc (Giám đốc) các Ngân hàng thương mại còn tài sản nhận gán nợ phải tổ chức xử lý và hoàn thành trong tháng 1 năm 1996 và báo cáo kết quả thực hiện về Ngân hàng Nhà nước Trung ương (Vụ Tín dụng).

Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích)