1. Sử dụng súng tại Việt Nam có vi phạm pháp luật không?

Pháp luật Việt Nam có quy định công dân Việt Nam không được phép sử dụng súng và sở hữu súng và có quy định những đối tượng nhất định được phép sử dụng súng. Những đối tượng này đều có những đặc trưng đó là phục vụ cho lực lượng quân đội, công an sẵn sàng chiến đấu với các tội phạm, bảo vệ trật tự an ninh xã hội hay hoạt động trong đơn vị mang tính chất đặc thù cần sử dụng súng như quân đội nhân dân, quân dân tự vệ, cảnh biển, công an nhân dân, cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, kiểm lâm, kiểm ngư, an ninh hàng không, ...

Bên cạnh đó, tùy từng loại súng mà cá nhân, tổ chức phải có giấy phép trang bị, giấy phép sử dụng hoặc khai báo với cơ quan có thẩm quyền. Và người muốn sử dụng súng đúng quy định pháp luật thì ngoài điều kiện thuộc vào các đối tượng trên thì cũng phải đáp ứng các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều 7 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017 như:

- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

- Có phẩm chất đạo đức tốt, đủ sức khỏe phù hợp với công việc được giao;

- Không đang trong thời gian bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đã được xóa án tích trong trường hợp bị kết tội theo bản án, quyết định của Tòa án;

- Đã qua đào tạo, huấn luyện và được cấp giấy chứng nhận về sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ.

Pháp luật Việt Nam nghiêm cấm việc cá nhân sở hữu vũ khí (bao gồm cả vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thể thao) và công cụ hỗ trợ. Điều này được quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017. Do đó, chỉ những đối tượng được quy định tại Điều 18, Điều 24, Điều 55 và đáp ứng đủ điều kiện tại khoản 1 Điều 7 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017 mới được trang bị, sử dụng súng là vũ khí quân dụng, vũ khí thể thao, công cụ hỗ trợ.

Bên cạnh đó, nếu muốn trang bị, sử dụng các loại súng này thì tùy từng loại súng, cá nhân, tổ chức phải có Giấy phép trang bị, Giấy phép sử dụng hoặc khai báo với cơ quan có thẩm quyền.

Đặc biệt, cần lưu ý tại khoản 2 Điều 5 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017 thì nghiêm cấm hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí (trong đó có súng săn) mà không quy định đối tượng được trang bị, sử dụng súng săn. Do đó, có thể hiểu, việc sở hữu, tàng trữ, sử dụng súng tại Việt Nam là hành vi trái quy định pháp luật.

 

2. Trách nhiệm dân sự đối với người dùng súng bắn người 

Theo quy định tại Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì việc sử dụng súng bắn người khác có thể dẫn đến hậu quả là họ bị thương sẽ dẫn đến việc người sử dụng súng phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho người bị bắn. 

Những khoản bồi thường thiệt hại do sức khỏe xâm phạm sẽ bao gồm:

- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại.

- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại.

- Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm cũng phải bồi thường một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

 

3. Dùng súng bắn người bị xử lý hình sự như thế nào? 

Đối hành vi sử dụng súng bắn người được xác định hành vi có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng ví dụ như: làm thương người khác hoặc nặng hơn là làm chết người. Nên để xác định việc hành vi dùng súng bắn người bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì cần xác định xem ý chí thực hiện hành vi vi phạm là gì, lỗi của hành vi là cố ý hay gián tiếp, hậu quả của hành vi như thế nào? Do đó, tùy vào tội danh có thể cấu thành mà bị hình thức xử lý hình sự sẽ khác nhau, cụ thể như:

 

3.1. Đối với hành vi sử dụng súng trái phép

Tùy thuộc vào hậu quả và mức độ nghiêm trọng của hành vi mà người sử dụng súng bắn người có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo một trong hai tội danh sau:

Thứ nhất, Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự

Căn cứ vào Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì đối với cá nhân thực hiện hành vi chế tạo,  tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự thì bị phạt tù từ 01 năm đến 07 năm.

Ngoài ra, nếu phạm tội danh này mà gây ra một trong các hậu quả nghiêm trọng như: Có tổ chức; Vận chuyển, mua bán qua biên giới; Làm chết người; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;Gây thiệt hại về tài sản từ 100 triệu đồng trở lên; Vật phạm pháp có số lượng hoặc có giá trị lớn/ rất lớn/ đặc biệt lớn; Tái phạm nguy hiểm thì có thể áp dụng các hình phạt như:

- Phạt tù có thời hạn từ 05 năm đến 20 năm;

- Tù chung thân.

Bên cạnh đó, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

Thứ hai, Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ

Căn cứ vào Điều 306 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự như súng săn, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Bên cạnh đó, nếu hành vi phạm tội này gây ra hậu quả nghiêm trọng như: Có tổ chức; Vật phạm pháp có số lượng lớn hoặc rất lớn hoặc đặc biệt lớn; Vận chuyển, mua bán qua biên giới; Làm chết người hoặc làm chết từ 02 người trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; Gây thương tích cho 02 người trở lên với tổng tỷ lệ là từ 61% đến 121 % hoặc từ 122% trở lên; Gây thiệt hại về tài sản từ 100 triệu đồng trở lên; Tái phạm nguy hiểm thì sẽ bị áp dụng hình phạt là phạt tù có thời hạn từ 01 năm đến 07 năm, tùy vào tính nghiêm trọng của hành vi.

Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

 

3.2. Đối với hành vi làm chết người

Nếu hậu quả hành vi sử dụng súng bắn người là làm chết người thì ngoài việc bị xử lý hình sự theo quy định tại Điều 304 và 306 Bộ luật Hình sự nêu trên thì hành vi giết người này cũng sẽ bị truy tố trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017. Cụ thể, người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

- Giết 02 người trở lên;

- Giết người dưới 16 tuổi;

- Giết phụ nữ mà biết là có thai;

- Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

- Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

- Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

- Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;

- Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

- Thực hiện tội phạm một cách man rợ;

- Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;

- Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;

- Thuê giết người hoặc giết người thuê;

- Có tính chất côn đồ;

- Có tổ chức;

- Tái phạm nguy hiểm;

- Vì động cơ đê hèn.

Nếu phạm tội không thuộc các trường hợp nêu trên thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

Ngoài ra, quý khách có thể tham khảo thêm về bài viết của Luật Minh Khuê như sau:  Điều kiện sử dụng súng hơi, sở hữu súng ở Việt nam có hợp pháp?

Mọi vướng mắc chưa rõ hoặc có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách vui lòng liên hệ với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại 24/7, gọi ngay tới số: 1900.6162 hoặc gửi email trực tiếp tại: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc nhanh chóng.  Cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.