1. Khái niệm giải quyết khiếu nại trong tố tụng hình sự

Công tác giải quyết khiếu nại trong tố tụng hình sự được hiểu là việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại. Như vậy, đây là một quá trình được pháp luật quy định chặt chẽ. Khi có khiếu nại, cơ quan, người có thẩm quyền sau khi phân loại, xử lý, xác định đây là khiếu nại đủ điều kiện, thuộc thẩm quyền thì lúc này phát sinh quan hệ pháp luật về khiếu nại và bắt đầu của quá trình giải quyết khiếu nại. Cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiến hành thụ lý, xác minh các tình tiết, tài liệu, chứng cứ…liên quan đến việc khiếu nại, qua kết quả xác minh sẽ kết luận việc khiếu nại là có căn cứ hay không, sau đó sẽ ra quyết định giải quyết khiếu nại. Đây là những giai đoạn bắt buộc trong quá trình giải quyết khiếu nại mà các chủ thể giải quyết phải tuân theo, dù là giải quyết khiếu nại hành chính hay khiếu nại tư pháp. Từ đó, có thể rút ra khái niệm giải quyết khiếu nại trong tố tụng hình sự như sau: Giải quyết khiếu nại trong tố tụng hình sự là quá trình chủ thể có thẩm quyền tiếp nhận,xem xét,thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

2. Đặc điểm của giải quyết khiếu nại trong tố tụng hình sự

2.1 Về thẩm quyền giải quyết khiếu nại

 Pháp luật tố tụng hình sự quy định cụ thể những cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong trong tố tụng hình sự. Như vậy, giải quyết khiếu nại là thẩm quyền mà pháp luật chỉ giao cho những chủ thể nhất định; mọi trường hợp giải quyết khiếu nại không do người có thẩm quyền thực hiện đều không phát sinh hiệu lực. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong tố tụng hình sự chỉ được giao cho cơ quan tiến hành tố tụng và những người có chức danh tiến hành tố tụng và được pháp luật tố tụng quy định rất cụ thể trong từng trường hợp. Về nguyên tắc, thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong tố tụng hình sự được quy định thuộc về cá nhân là người đứng đầu cơ quan (cấp trưởng); tuy nhiên, trong thực tế thì cấp trưởng thường ủy quyền cho cấp phó giải quyết thông qua hình thức ký thay hoặc ký thừa ủy quyền; nhưng mặc dù là cấp phó ký thay hoặc thừa ủy quyền thì trong trường hợp này, quyết định giải quyết khiếu nại vẫn được coi là của cấp trưởng và hậu quả pháp lý sau này vẫn do cấp trưởng chịu trách nhiệm trước pháp luật, còn cấp phó chỉ chịu trách nhiệm trước cấp trưởng.

2.2 Về thủ tục giải quyết khiếu nại

BLTTHS năm 2015 đã bỏ cụm từ “quyết định giải quyết cuối cùng” thay bằng “quyết định giải quyết có hiệu lực pháp luật”. Do pháp luật tố tụng hình sự không có quy định người khiếu nại nếu không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại có quyền khởi kiện tại Tòa án, nên thủ tục giải quyết khiếu nại chỉ dừng lại ở lần hai và người khiếu nại hết quyền khiếu nại. Riêng đối với ngành Kiểm sát để đảm bảo thận trọng trong giải quyết khiếu nại thì quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật của VKS cấp dưới vẫn có thể được VKS cấp trên có thẩm quyền kiểm tra, nếu phát hiện ra oan, sai thì sẽ hủy bỏ yêu cầu giải quyết lại (Điều 14 Quy chế 51 ngày 02/02/2016)

2.3 Về thời hạn giải quyết khiếu nại

 Do tính chất của thủ tục tố tụng rất khẩn trương, liên tục nên thời hạn giải quyết khiếu nại trong hoạt động tư pháp thường ngắn hơn nhiều so với thời hạn giải quyết khiếu nại hành chính; nếu thời hạn giải quyết khiếu nại hành chính trong một cấp có thể lên đến 60 ngày thì thời hạn giải quyết khiếu nại tư pháp chỉ tối đa là 15 ngày trong một cấp, thậm chí, đối với khiếu nại liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam thì thời hạn giải quyết không được quá 3 ngày ở lần đầu. Vì thời hạn giải quyết khiếu nại trong hoạt động tư pháp là rất ngắn do bị chi phối bởi thời hạn của các giai đoạn tiến hành tố tụng, nên người giải quyết khiếu nại sẽ gặp khó khăn trong việc xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết.

3. Khái niệm giải quyết tố cáo trong tố tụng hình sự

Khái niệm giải quyết tố cáo theo nghĩa rộng được quy định ở Luật tố cáo năm 2011, theo đó giải quyết tố cáo được hiểu là việc xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và việc quyết định xử lý của người giải quyết tố cáo, công khai kết luận nội dung tố cáo. BLTTHS năm 2015 thì lại không quy định ban hành kết luận nội dung tố cáo mà ban hành quyết định giải quyết tố cáo. Theo đó, có thể rút ra khái niệm giải quyết tố cáo trong tố tụng hình sự như sau: Giải quyết tố cáo trong tố tụng hình sự là quá trình chủ thể có thẩm quyền, tiếp nhận, xem xét, thụ lý, xác minh, ra quyết định giải quyết tố cáo đối với hành vi tố tụng của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

4. Đặc điểm của giải quyết tố cáo trong tố tụng hình sự

Giải quyết tố cáo trong tố tụng hình sự về cơ bản có những đặc điểm sau:

4.1 Về thẩm quyền giải quyết tố cáo

Về nguyên tắc, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật mà người bị tố cáo thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan tiến hành tố tụng nào thì cơ quan đó có thẩm quyền giải quyết, thông qua người đứng đầu cơ quan đó; có nghĩa là thẩm quyền giải quyết tố cáo về nguyên tắc luôn thuộc về người đứng đầu cơ quan, đây chính là việc cá thể hóa trách nhiệm giải quyết tố cáo. Trong hoạt động tố tụng, hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng được thể hiện thông qua là hành vi của người tiến hành tố tụng trong từng trường hợp cụ thể; do đó, pháp luật tố tụng không quy định tố cáo đối với hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, mà chỉ quy định tố cáo đối với hành vi của người tiến hành tố tụng thuộc cơ quan tiến hành tố tụng nào thì người đứng đầu cơ quan tiến hành tố tụng đó có thẩm quyền giải quyết. Tuy vậy, riêng tố cáo hành vi tố tụng của người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra do Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra có thẩm quyền xem xét, giải quyết.

4.2 Về thủ tục và thời hạn giải quyết tố cáo

Thủ tục và thời hạn giải quyết tố cáo trong tố tụng hình sự cũng được áp dụng tương tự như giải quyết tố cáo trong hoạt động hành chính. Tuy vậy tố cáo trong hoạt động hành chính thì có thể gia hạn thời hạn giải quyết khi thấy cần thiết còn tố cáo trong tố tụng hình sự thì không có quy định này, mặc dù việc giải quyết tố cáo trong tố tụng hình sự thường phức tạp, khó khăn hơn, vì người bị tố cáo thường là người có chức danh tư pháp, có nhiều kinh nghiệm về nghiệp vụ, am hiểu pháp luật sâu sắc, nên hành vi vi phạm rất tinh vi, kín kẽ, khó xác minh, làm rõ. Về cơ bản, giải quyết tố cáo trong tố tụng cũng được tiến hành theo các bước như tiếp nhận, phân loại và xử lý ban đầu; nếu tố cáo thuộc thẩm quyền thì tiến hành thụ lý để giải quyết; khác với giải quyết tố cáo trong hoạt động hành chính, thủ tục giải quyết tố cáo trong hoạt động tư pháp chỉ quy định một cấp giải quyết duy nhất, người tố cáo không được tố cáo tiếp, đây cũng là một đặc thù của giải quyết tố cáo trong hoạt động tố tụng do nó bị chi phối bởi tính khẩn trương, liên tục của thủ tục tố tụng; thời hạn giải quyết tố cáo trong hoạt động tố tụng cũng được quy định trong BLTTHS năm 2015 là từ 60 đến 90 ngày tùy từng trường hợp, tuy nhiên, trong tố tụng hình sự, đối với tố cáo liên quan đến hành vi bắt, tạm giữ, tạm giam thì thời hạn giải quyết không quá 3 ngày.

4.3 Các chủ thể giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự

Pháp luật tố tụng hình sự ghi nhận bốn cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại là: Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và ba cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố cáo là: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án. Theo đó, thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo tập trung vào cấp trưởng cơ quan có thẩm quyền, như sau:
Thủ trưởng Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết các khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra; Cấp trưởng cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền giải quyết đối với quyết định, hành vi tố tụng của cấp phó, cán bộ điều tra của cơ quan mình; Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền giải quyết khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng trong việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam (trừ khiếu nại quyết định bắt, tạm giam trong giai đoạn xét xử do Tòa án giải quyết), khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng, kết quả giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng Cơ quan điều tra, các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra đã được Viện kiểm sát phê chuẩn, khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng, kết quả giải quyết khiếu nại của cấp trưởng cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng, của Phó viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên; Chánh án Tòa án có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Phó chánh án Tòa án, Thẩm phán, Thẩm tra viên.
Về thẩm quyền giải quyết tố cáo, pháp luật tố tụng hình sự không liệt kê các các chức danh tư pháp có thể bị tố cáo như ở khiếu nại để quy định thẩm quyền giải quyết cụ thể. Mà quy định có tính khái quát như sau: tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nào thì người đứng đầu cơ quan đó có thẩm quyền giải quyết; tố cáo hành vi tố tụng của người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và tố cáo hành vi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam trong giai đoạn điều tra, truy tố do Viện kiểm sát giải quyết. Như vậy, pháp luật tố tụng hình sự không quy định quyền hạn giải quyết tố cáo của Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt điều tra.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê