1.Nội dung của tư duy pháp lý
Đối với luật sư thì tư duy pháp lý là một dụng cụ lý trí. là cách cách suy nghĩ trong đầu của luật sư để phân tích, sâu chuỗi, logic vấn đề pháp lý lại với nhau để áp dụng vào các điều khoản tương ứng sau đó có thể bao quát chung vấn đề pháp lý để giúp thân chủ của mình thắng trong vụ kiện, vụ án đó.
Vậy khi trả lời được các câu hỏi đó thì tìm ra được giải pháp theo luật để giải quyết một vụ việc nhất định. Nói gọn lại thì đó là cách phân tích các sự kiện để áp chúng vào luật pháp hầu tìm ra giải pháp. Cốt lõi của TDPL là tìm ra các câu hỏi pháp lý, trong đó có CHMC và các CHPT; nhưng để có các câu hỏi đó thì phải tìm ra các sự kiện đã xảy ra và ấn định cái nào là chính, cái nào là phụ. Nó là một chuỗi công việc được gọi là các giai đoạn. Mỗi giai đoạn có các bước đi.
TDPL là sự suy nghĩ trong đầu mình, chứ không phải là trình bày, nói hay viết ra, cho người ngoài xem hay nghe. Kết quả sau cùng của nó là sự trình bày bằng cách viết hay nói. Các nội dung bạn đọc trong sách này đều là “cách suy nghĩ”. Nếu viết thành văn bản ta sẽ phải trình bày khác đi cho phù hợp với thói quen của người đọc.
2. Vai trò của luật sư trong tư vấn pháp luật
Tư vấn pháp luật là việc mà luật sư trợ giúp, hỗ trợ pháp lý hướng dẫn, đưa ra ý kiến giúp khách hàng các giấy tờ nhằm thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ sao cho đúng với quy định của pháp luật. Nghề làm luật trong tư vấn pháp luật là tư vấn tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội được pháp luật ban hành và điều chỉnh. tư vấn pháp luật góp phần trong việc hạn chế những vụ tranh chấp trong đời sống hàng ngày đồng thời có thể làm giảm bớt đi các hành vi vi hạm pháp luật xảy ra. Bên cạnh đó tư vấn pháp luật cũng là một hình thức tuyên truyền pháp luật cho công dân.
Với sự phát triển và hội nhập kinh tế hiện nay thì tư vấn pháp luật còn là dịch vụ nghề nghiệp điều chỉnh và trợ giúp pháp lý về kinh doanh, đầu tư nước ngoài cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước.Tư vấn pháp luật cung cấp thông tin pháp luật, giúp bảo vệ quyền lợi cho cá nhân cũng như kiến thức pháp luật cho cá nhân và tổ chức.
3. Đặc điểm của tư duy của pháp luật bằng cách đặt câu hỏi
Thân chủ tìm đến luật sư thì thường nhờ bạn làm một trong hai việc chính:
- Thứ nhất là bào chữa ở tòa hay một cơ quan tài phán nào đó vì họ bị khiếu tố, bị triệu tập, hoặc họ làm ngược lại đối với ai. Loại việc này ta gọi là giải quyết tranh chấp tại pháp đình. Công việc của bạn thường là bảo vệ, bào chữa, hiểu theo nghĩa rộng.
- Thứ hai là cho ý kiến về một việc họ định làm, hay định làm mà muốn tránh các rắc rối về sau, hoặc tìm một giải pháp cho một cuộc tranh chấp nào đó mà không muốn đưa tới pháp đình, cái này gọi là tranh chấp ngoại tư pháp, hay tư vấn.
Chia theo địa điểm thì chỉ có hai nhưng theo nội dung công việc thì có nhiều. Việc ở pháp đình được chia ra những vụ như hình sự, phi hình sự, dân sự, hành chính… Công việc ngoại tư pháp có nội dung rộng lắm, có thể bao gồm cả hình sự, phi hình sự, tư vấn, thậm chí giải đáp pháp luật, tuyên truyền pháp luật.
Khi một vụ việc đến tay bạn thì luôn luôn là một tình huống khó khăn: bà vợ muốn ly dị; người mua không trả tiền; người chủ nhà không chịu trả tiền đặt cọc, đòi nợ… Tình huống ấy được trình bày cho bạn nhiều khi rõ ràng, nhiều khi rối mù và tất cả kết tinh lại giống như một cái xoong nhôm méo mó đặt ngay trước mặt bạn. Bị giao “cái xoong méo mó”, bạn phải dùng TDPL gõ nó phẳng ra để có thể lấy cái nắp đậy lại. Cái xoong là vụ việc, cái nắp là luật điều chỉnh, TDPL giống như một cái búa nho nhỏ bạn dùng để gõ cái xoong. Khi nắp úp vào xoong được là bạn giải quyết được vụ án. Tuy nhiên, giải pháp đề nghị của bạn lại phải không bị đối phương bác bỏ (tức là người tranh chấp với thân chủ của bạn cùng luật sư của họ), và thuyết phục được những người khác như thẩm phán, viện kiểm sát…
Trong khuôn khổ nêu trên, TDPL có một đặc điểm là khi thân chủ đến hỏi bạn, nhưng để trả lời họ thì trong đầu mình, bạn lại phải đặt ra các câu hỏi. Hỏi mình được, bạn mới có câu trả lời cho thân chủ! Xin nhớ nằm lòng điều này: TDPL là luôn luôn đặt câu hỏi.
Bạn sẽ hỏi tôi: “Tại sao thân chủ đến hỏi, nhưng để trả lời thì trong đầu mình lại phải đặt câu hỏi?”. Thưa, vì vài lý do sau:
- Một là hỏi để kiểm tra, để vặn vẹo một điều nào đó vừa được đưa ra hầu biết chắc nó đúng hay không. Thí dụ bạn nói với cô bạn: “Này, anh mày còn nợ tiền tao đấy nhé”. Đấy là một điều bạn vừa đưa ra. Cô bạn sẽ hỏi tiếp:” Có bằng chứng không?”. Bạn đưa tờ giấy ra. Cô ta sẽ hỏi tiếp: “Có thiệt giấy đó là của anh tao không?”. Bạn thấy đấy, các câu hỏi được đưa ra liên tiếp là để xác định món nợ có thật hay không. Do vậy, trong TDPL khi tìm ra CHMC thì câu đó sẽ bị vặn vẹo bằng các câu hỏi khác để đứng vững hay bị bác bỏ.
- Hai, hỏi để nắm rõ. Nếu bạn nói: “Anh Ba và cô Lan là vợ chồng” – tức là bạn dùng một câu ở thể xác định – thì khi ấy, bạn chỉ nhìn nhận một sự thật, một sự kiện, và bạn không phải suy nghĩ gì thêm sau đó. Thế nhưng nếu bạn hỏi: “Anh Ba và cô Lan có là một đôi vợ chồng không?” thì bạn vừa nêu một câu hỏi, và bạn sẽ phải đi tìm câu trả lời. Bạn phải tìm xem họ có lập hôn thú không, ngày nào, ở đâu… Lúc nào thì bạn nêu câu hỏi kia? Thưa, không phải vì đôi vợ chồng kia đang sống hòa thuận với nhau, mà vì bà vợ đến nhờ bạn giúp ly dị; bởi ông chồng lăng nhăng. Là luật sư, bạn thường tiếp nhận… nghịch cảnh của người khác. Thí dụ này giúp bạn phân biệt “nghe để biết và hỏi để nắm rõ, hầu đưa ra giải pháp”. Trong công việc, luật sư phải thiên về việc sau.
- Ba, một câu hỏi đưa ra sẽ buộc bạn phải suy nghĩ, phải tìm tòi để trả lời. Quá trình suy nghĩ là quá trình đi tìm sự thật. Và khi có một vụ tranh chấp, người ta phải đi tìm sự thật. Đó là lý do tại sao khi TDPL người ta đưa ra câu trả lời sau khi đã đặt nhiều câu hỏi. Thí dụ sau sẽ làm sáng tỏ điều đó. Cô em gái xinh xinh của bạn có một ông bồ, cô phân vân trong quyết định của mình là chấp nhận lời cầu hôn hay không và bèn đi hỏi ý kiến người khác. Khi cô hỏi mẹ, bà cụ có thể trả lời ngay là nên lấy hay không, theo kinh nghiệm và lòng thương con của bà. Câu trả lời của bà có thể là “lấy nó con sẽ khổ”. Cô bé hỏi, bà cụ trả lời ngay.
Ấy nhưng, nếu cô ấy đi hỏi anh của đứa bạn mình là một luật sư thì ông ta không trả lời ngay mà sẽ hỏi: Anh ta đã cư xử với em như thế nào, anh ta thật hay dối với em; có hay đến trễ hẹn không. Đại khái là ông “điều tra” anh kia để đưa ra kết luận cho cô em là có nên lấy anh kia không. Bạn thấy đấy, ông luật sư không trả lời một cái bộp như bà mẹ! Họ bị “méo mó nghề nghiệp”.
Cách TDPL không chỉ dành cho luật sư mà còn cho tất cả những ai phải vận dụng luật pháp để giải quyết một tình huống bị tranh chấp đang xảy ra, sao cho phù hợp với luật pháp. Họ đều bị người khác đưa cho một “cái xoong méo mó”; và để giải quyết, họ phải có “cái búa nho nhỏ”. Cái búa giúp gõ dần từng chỗ của cái xoong cho nó phẳng phiu. Chọn cách gõ nào để cuối cùng nó ăn khớp với cái nắp là tùy chức năng của mỗi người..
4.Ví dụ về đặc điểm trên
Ông A và B là hàng xóm của nhau. Một hôm hai người cãi nhau. B bèn đập phá đồ đạc, cây kiểng của A ở trước cửa nhà. B làm hung hăng quá khiến A phải tìm cách cản lại. Con trai của A phụ với bố một tay. Sau khi đã ôm lại được một ít đồ, và vì tiếc của, họ đấm đá B cho đến khi chảy máu đầu. B bèn đi thưa cha con ông A về tội cố ý gây thương tích. Khi nội vụ ra tòa, A nhờ luật sư An trong tư cách bị cáo. B nhờ luật sư Ba với tư cách người bị hại. Kiểm sát viên K khởi tố. Thẩm phán T xét xử.
Cả bốn người đều có “cái xoong méo mó”; tất cả đều có thể dùng “cái búa nhỏ”. Họ xem nội vụ trong những giai đoạn khác nhau và trả lời những câu hỏi như: A có gây thương tích cho B không hay vì ông ta ngã vào thềm hè? Mức thương tật là bao nhiêu? Mức chống cự thế nào và có thể tạo nên một sự phòng vệ chính đáng ở đây không?… Đó là các câu hỏi pháp lý và tiêu biểu cho cách gõ cái xoong. TDPL chỉ cách nêu lên các câu hỏi này. Khi có các câu trả lời thì mỗi người sẽ dùng chúng theo một cách khác nhau. Kiểm sát viên K lấy cơ sở để truy tố; luật sư An để bào chữa; luật sư Ba để buộc tội; thẩm phán T để kiểm nghiệm các lý lẽ các bên đưa ra hầu tuyên án.
TDPL chỉ là một phương pháp, mà phương pháp thì có nhiều, người này dùng cái này, người kia dùng cái khác; nhưng TDPL giúp bạn tìm ra giải pháp khó bị đối phương tấn công nhất vì nó được làm theo phương pháp của luận lý học (logique). Đó là phương pháp giúp con người hiểu biết sự vật. Thế nhưng, như đã đề cập, dù là hay nhất nhưng chưa chắc giải pháp tìm ra luôn luôn được chấp nhận; vì con người có nhiều cách lựa chọn khác nhau cho một điều họ phải đương đầu. Thí dụ khi tranh chấp mà họ quyết định bỏ qua thì phương pháp có hay, giải pháp có hợp lý cũng chẳng có ý nghĩa gì với họ.
5. Đặc điểm thứ hai về tư duy pháp lý
Đầu óc nắm luật nhưng việc cần làm là đi tìm và phân tích các sự kiện
Quá trình nghiên cứu của luật sư trong một vụ dân sự như sau:
(i)Nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ án;
(ii)Đọc lướt qua toàn bộ hồ sơ;
(iii)Ghi chép các sự kiện chính theo ngày tháng, theo nội dung sự việc, theo sự kiện;
(iv)Sắp xếp và nghiên cứu các chứng cứ;
(v) Suy nghĩ về phương hướng để tìm ra giải pháp giải quyết vụ án có lợi cho khách hàng của mình.
(iv) Nghiên cứu hồ sơ do nguyên đơn cung cấp...
(vii) Nghiên cứu hồ sơ do bị đơn cung cấp
Việc (i), (ii) và (iii) đều quy về một mục đích là tìm hiểu đầy đủ vụ việc. Việc (iv) là sắp xếp và nghiên cứu các chứng cứ; việc (v) là suy nghĩ phương hướng. TDPL bao trùm tất cả các bước này, có chỗ nhiều, có chỗ ít, nhưng điều quan trọng là nó dẫn bạn đi một bước xa hơn và sâu hơn là đi tìm SKMC và đặt CHMC – tức là đi tìm vấn đề pháp lý của vụ việc để giải quyết nó.
Đi tìm vấn đề pháp lý của vụ việc là đi tìm các sự kiện, rồi phân tích nó để xem có thể áp nó vào luật nào nằm trong ngành luật điều chỉnh vụ việc được xem xét. Sự kiện trong một vụ việc thì có nhiều, cho nên khi TDPL là đi tìm sự kiện quan trọng nhất nằm trong vụ việc. Vì phải đi tìm sự kiện bằng cách phân tích nên TDPL coi chứng cứ là công cụ hỗ trợ các sự kiện. Chứng cứ và sự kiện khác nhau. A không trả tiền mua hàng cho B là vi phạm hợp đồng. Nó là một sự kiện: việc không trả tiền. Việc ấy được chứng minh bằng thư thúc nợ của B gửi cho A mà A đã không trả lời. Đấy là chứng cứ. Một sự kiện có thể được thể hiện bằng một hay nhiều chứng cứ và ngược lại. Trong TDPL, người ta phân tích sự kiện trước để có SKMC và CHMC; sau đó rồi mới kiểm tra chứng cứ sau; dẫu cho chứng cứ có thể tiêu hủy sự kiện. Để làm rõ hơn điểm này xin nêu một thí dụ. Một thủ phạm đâm nạn nhân chết bằng 10 nhát dao. Khi xem xét vụ này người ta sẽ bàn về 10 nhát dao để bảo rằng vụ ấy dã man. Đó là bàn về việc “đâm người” và “kết tội”. Làm xong xuôi rồi người ta mới hỏi chứng cứ đâu và con dao được đem ra. Con dao là chứng cứ. Nó không cho biết nó đã đâm nạn nhân 10 lần!
Bạn cũng đã biết yêu cầu “sự thật khách quan, đầy đủ và toàn diện” trong một vụ án. Đạt được yêu cầu này thì chỉ có các vị chánh án mới làm được vì trước mặt họ là hai bên tranh chấp; mỗi bên trình bày nội vụ theo cái nhìn của họ; thường là trái ngược nhau. Nhiệm vụ của luật sư khi bảo vệ thân chủ là đưa ra lý lẽ của mình để bác bỏ sự phản đối của bên kia nên họ chỉ “toàn diện và đầy đủ” về phần của họ mà thôi.
Khi làm việc trên, bạn phải nhớ rằng bảo vệ khách hàng không có nghĩa là “cứ làm hết cách để làm lợi cho khách” ngay cả khi họ đã vi phạm hợp đồng, mà nếu thấy sai thì phải khuyên khách hàng hòa giải. Đó là phục vụ công lý. Không thể bẻ cong công lý để làm lợi cho khách.
Sự hữu dụng của TDPL sẽ khác nhau tùy theo tính chất của mỗi vụ. Trong một vụ hình sự, cơ sở buộc tội được căn cứ trên các yếu tố chủ thể, khách thể, mặt chủ quan, mặt khách quan và bạn chỉ tìm cách làm sao triệt tiêu một trong những yếu tố này thì thân chủ của bạn có thể thoát tội. Các yếu tố kia dễ tìm, và lại có điều luật rành mạch nên TDPL trong hình luật không đóng vai trò quan trọng. Nó chỉ quan trọng khi chọn bằng chứng và chọn yếu tố nào để xác định hay bác bỏ tội danh.
Trong các vụ phi hình sự thì bạn phải sử dụng cách TDPL rất nhiều, vì các vụ này không có cơ sở quy trách nhiệm rõ ràng như hình luật. Thông thường vụ nào cũng có nhiều tình tiết, nhiều điểm tranh chấp, nhiều người với nhiều ý kiến nên bạn phải có phương pháp thuyết phục nhất. Khi nghe thân chủ trình bày xong, trong đầu bạn “cái búa” phải hoạt động ngay để tìm xem có cơ sở pháp lý không, nó nằm ở tình tiết nào. Chương trình đào tạo luật sư dạy bạn những công việc phải làm ở tòa trong các vụ dân sự; nhưng trước giai đoạn đó các bạn đã phải dùng đến “cái búa” ở văn phòng rồi.
Về lĩnh vực tư vấn, khi bạn được yêu cầu cho ý kiến thì có những việc (i) đã xảy ra và (ii) chưa xảy ra nhưng thân chủ định làm. Việc (i) có thể liên quan đến pháp đình hay không; nhưng việc (ii) thì hoàn toàn không liên quan gì đến pháp đình. Thí dụ, tư vấn về việc xây dựng một nhà máy sản xuất. Công việc loại (i) thì cần đến cách TDPL, nhưng loại (ii) đòi hỏi bạn một khả năng khác. Đó là am tường sự việc. Bạn phải biết về việc đó đã rồi mới chỉ dẫn cho thân chủ được. Trở lại thí dụ lập một nhà máy sản xuất ở tỉnh X. Để tư vấn cho thân chủ bạn phải biết muốn lập một nhà máy thì người ta phải làm những gì. Thí dụ: thuê/mua đất; xây dựng; nhập máy móc; xin ưu đãi đầu tư… Mỗi vấn đề có những luật lệ khác nhau. Bạn phải biết từng vấn đề thì mới tìm ra các luật điều chỉnh để trình bày cho thân chủ. Bạn cũng phải nói cho thân chủ biết các rủi ro, khuynh hướng của chính quyền, của tòa án khi có các rủi ro, những sự phiền phức. Tóm lại là nhiều thứ và chúng được gọi chung là nghiên cứu và phân tích các vấn đề pháp lý. Tôi sẽ quay lại đề tài này trong vụ án số 14 và 28. Khi soạn quyển sách này, tôi chỉ nhắm tới luật sư và chú trọng vào các công việc chính của họ. Tuy nhiên, khi trình bày đề tài thì những việc khác, các quan chức tư pháp khác cũng có thể được đề cập, nhưng đó chỉ là một sự ngẫu nhiên.
Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập)