1. Nộp đơn tố cáo lừa đảo ở đâu ?

Thưa luật sư, tôi bị một người ở Sài Gòn lừa đưa người sang nước ngoài lừa đảo lấy tiền của tôi đã gần 2 năm mà tôi lại ở nghệ an. Vậy tôi phải làm sao để lấy được tiền và muốn gửi đơn tố cáo tôi phải gửi ở đâu ?
Xin tư vấn sớm giúp tôi. Cảm ơn luật sư nhiều!
Người hỏi: N.A

>> Luật sư tư vấn hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Hành vi của người lừa đưa người sang nước ngoài lấy tiền của bạn có dấu hiệu của hành vi lừa đảo chiểm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự 1999:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đếnhai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Theo quy định tại Điều 101 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 thì:

"Điều 101. Tố giác và tin báo về tội phạm

Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản."

Do vậy, bạn có thể tố giác hành vi lừa đảo chiểm đoạt tài sản của người kia với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan, tổ chức khác

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tư vấn về việc bị lừa chuyển tiền vào tài khoản ? Cách tố cáo lừa đảo

2. Cách xử lý hành vi lừa đảo có tổ chức ?

Thưa Luật sư! Ngày 11 tháng 9 năm 2015 qua sự giới thiệu của một người môi giới, tôi mua một chiếc xe tải nhỏ với giá 60 triệu đồng, anh ta xin 1 triệu. Nghĩ là tiền dịch vụ nên tôi đồng ý, tôi nói với bố mẹ, bố mẹ không đồng ý. Anh môi giới này nói với bố mẹ rằng chủ xe bán trong vòng 1 tháng sẽ mua lại xe vì anh ta đang chạy cầm bằng để khoán cho mấy người mua bán xe.
Bố mẹ tôi đã đồng ý đưa tiền cho tôi và nói khi nào tôi lên coi xe thì đồng ý mua. mẹ của anh môi giới đó nói với tôi bán 1 tháng rồi cầm bằng khoảng 1 tỷ sẽ mua lại trong thời gian đợi người bán cho tôi. Anh đó nói vợ anh ta đang cầm giấy tờ lên uỷ ban công chứng. Chiều thứ 6, lúc 2h vợ anh nói người trên ủy ban đi học hết rồi nên không ai làm công chứng, xong bảo tôi đưa 60triệu. Họ viết cho tôi 1 tờ giấy bán có 2 vợ chồng ghi tên người làm chứng nhận tiền, sáng thứ 7 ngày hôm sau sẽ đi làm công chứng nhưng tôi không chịu. Họ nói đưa sổ hộ khẩu cho tôi và tôi đã đồng ý.
Tới ngày sau họ vẫn chưa đi làm công chứng. Ngày 19.9.2015 tôi tới và họ nói giấy tờ xe bị công an giao thông bắt, họ viết cho tôi 1 cam kết trong vòng 30 ngày sẽ làm công chứng. Hôm nay tôi lại lên gặp và nói đưa xe hoặc trả lại tôi 60 triệu và họ lại hứa. Giờ tôi muốn kiện những người này tội lừa đảo có tổ chức có được không?
Tôi xin cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua tổng đài 24/7: 1900.6162

Trả lời:

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139 Bộ luật Hình sự. Để cấu thành tội lừa đảo, người thực hiện phải dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Do đó, trong trường hợp này, để có cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự, bạn phải chứng minh nhóm người này nhận tiền (60 triệu) nhưng không thực hiện việc mua xe, công chứng giấy tờ. Cụ thể, Điều 139 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định:

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Như vậy, ​để cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hành vi vi phạm phải đáp ứng các yếu tố: “dùng thủ đoạn gian dối” và “chiếm đoạt tài sản của người khác”. Cụ thể, 4 yếu tố cấu thành tội phạm (Khách thể của tội phạm; Chủ thể của tội pham; Mặt khách quan của tội phạm; Mặt chủ quan của tội phạm) được thể hiện như sau:

1. Khách thể của tội phạm: Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.

2. Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự.

3. Mặt khách quan của tội phạm: Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm hữu trái phép tài sản của người khác để tạo cho mình khả năng định đoạt tài sản đó một cách gian dối. Đó là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho người có tài sản tin là sự thật nên đã tự nguyện giao tài sản cho người có hành vi gian dối để họ chiếm đoạt. Hai dấu hiệu đặc trưng của tội phạm này là hành vi gian dối và hành vi chiếm đoạt.

a. Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản:

- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản.

- Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối

Ở đây thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa gia tài sản cho kẻ phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận.

- Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Nếu có hành vi gian dối mà không có hành vi chiếm đoạt (chỉ chiếm giữ hoặc sử dụng), thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi gian dối trên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép hoặc tội sử dụng trái phép tài sản, hoặc đó chỉ là quan hệ dân sự.

Do đó, thủ đoạn gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bao gồm 2 dấu hiệu là: Thứ nhất, người phạm tội đã có hành vi gian dối như bằng lời nói, hành động hoặc những thủ đoạn khác nhằm cung cấp những thông tin sai lệch về sự việc (nói dối, trái sự thật, nói không thành có, nói ít thành nhiều, tẩy xóa con số để được nhiều hơn),… ; Thứ hai, chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản đã nhầm tưởng, tin vào các thông tin không đúng sự thật đó nên đã tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền quản lý tài sản cho người phạm tội. Thỏa mãn 2 yếu tố này mới cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

b. Ngoài ra, còn có dấu hiệu khác về giá trị tài sản chiếm đoạt, đó là giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên.

4. Mặt chủ quan của tội phạm: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác do mình thực hiện hành vi là gian dối, trái pháp luật. Đồng thời thấy trước hậu quả của hành vi đó là tài sản của người khác bị chiếm đoạt trái pháp luật và mong muốn hậu quả đó xảy ra.

Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý. Về mặt ý chí của người phạm tội lừa đảo bao giờ cũng nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện hành vi lừa đảo, đây là điểm phân biệt cấu thành tội lạm dụng tín nhiếm chiếm đoạt tài sản. Vì trong một số trường hợp phạm tội làm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì bao giờ ý định chiếm đoạt tài sản cũng phát sinh sau khi nhận tài sản thông qua một hình thức giao dịch nhất định

Ý thức chiếm đoạt phải có trước thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản. thủ đoạn gian dối bao giờ cũng phải có trước khi tiến hành giao tài sản giữa người bị hại với người phạm tội. Nếu sau khi có được tài sản hợp pháp mới phát sinh thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản thì không coi là phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tuỳ từng trường hợp cụ thể người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về những tội danh tương ứng ( như tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản).

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Bị lừa qua mạng có cách đòi được không ? Cách xư lý việc lừa tiền chạy việc

3. Cấu thành tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Chào luật sư, xin hỏi: Anh A làm việc trong công ty B. Công ty B có hợp đồng với cty C gia công sản phẩm đồng thời chịu trách nhiệm quản lí sản phẩm tại kho của cty C. Anh A lấy hàng của công ty B trong kho của công ty C (hàng cty B do thủ kho bên C quản lí),có trả tiền lấy hàng cho bên cty C.Trong giấy xuất kho của cty C có ghi rõ người nhận hàng là B, đồng thời ghi rõ lý do là:"bán" với số tiền là X. Nếu như cty B tố cáo A tội chiếm đoạt tài sản thì A có bị chịu trách nhiệm về tội chiếm đoạt tài sản không?
Mong luật sư tư vấn giúp. Chân thành cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Nếu A có hành vi bỏ trốn, không hợp tác trả lại tiền thì họ có thể tố cáo lên cơ quan điều tra về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của A, kèm theo đó là các chứng cứ mà họ có, Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi năm 2009 quy định:

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Thưa luật sư, Đầu năm 2011, vợ chồng bà Y thoả thuận bán cho bà V 01 lô đất rừng có GCN QSDĐ (sổ đỏ). Bà Y đã nhận số tiền 220 triệu đồng của bà V, hứa sau vài tuần sẽ sang tên sổ đỏ cho bà V. Vì là chỗ thân quen nên lúc đó hai bên không viết giấy giao nhận tiền (chưa xác định rõ là ngày nào). Việc giao dịch và trồng rừng, bà V nhờ anh mình là ông C thực hiện. Sau một thời gian không thấy sang tên sổ đỏ cho bà V, ông C cùng bà Y làm giấy nhận tiền (220 triệu) vào ngày 15/3/2011 (như vậy, việc thoả thuận và nhận tiền xảy ra trước đó vài tuần). Tuy nhiên, sổ đỏ này vợ chồng bà Y đã chế chấp Ngân Hàng vào ngày 10/3/2011 để vay 50 triệu đồng. Nhiều lần bà V hỏi bà Y về việc sang tên sổ đỏ, bà Y trả lời sổ đỏ đang thế chấp ở Ngân Hàng và yêu cầu bà V đưa thêm 50 triệu đồng để nộp Ngân Hàng và rút sổ đỏ ra. Nhưng bà V không đổng ý. Cùng thời điểm đó, bà Y còn nợ tiền của người khác nữa là ông D. Ông D đã đưa số tiền 50 triệu đồng để bà Y rút sổ đỏ ra và giao cho ông D giữ. Một thời gian sau bà Y không trả tiền cho ông D, cho nên đã sang tên sổ đỏ cho ông D với giá là 300 triệu đồng (được cấp sổ đỏ ngày 24/12/2012). Biết việc vợ chồng bà Y sang tên sổ đỏ đất rừng cho ông D mà không trả tiền cho bà V, cho nên ngày 23/01/2013 ông C đã thay em mình (bà V) viết đơn tố cáo vợ chồng bà Y lừa đảo. Sau nhiều lần dây dưa không giải quyết, đến ngày 05/9/2014 vợ chồng bà Y viết giấy thoả thuận với bà V sẽ trả nợ dần 4 triệu đồng/tháng, đến ngày 30/12/2018 phải trả xong nợ cho bà V. Như vậy, xin hỏi luật sư : Hành vi của vợ chồng bà Y có phải là lừa đảo, là vi phạm pháp luật không ?

Nếu bà Y không có hành vi bỏ trốn hoặc dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản thì bà Y sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, mà sẽ chỉ phải chịu trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Cách giải quyết khi bị lừa tiền nhờ xin việc ? Tố cáo hành vi lừa tiền chạy việc ở đâu ?

4. Tố cáo về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi có đơn tố cáo sai sự việc chiếm đoạt tài sản ? Khi tới công an giải quyết thì tôi bị vu khống, bên công an cố tình không trả lời tôi ? Vậy tôi muốn luật sư tư vấn cho tôi làm đơn gửi bên công an trả lời tôi bằng văn bản theo đúng pháp luật ?
Cảm ơn!

Trả lời:

Trường hợp này nếu bạn có đơn tố cáo người khác sai sự thật thì hành vi này có thể bị truy cứu TNHS về tội vu khống theo quy định Bộ luật hình sự năm 1999 (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2009) như sau:

Điều 122: Tội vu khống:

1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với nhiều người;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người thi hành công vụ;

e) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Theo đó, nếu hành vi này cấu thành tội Vu khống theo quy định trên thì cơ quan điều tra sẽ ra quyết định khởi tố vụ án và bạn sẽ không có quyền yêu cầu cơ quan này trả lời bằng văn bản mà có thể dựa vào quyết định khởi tố để có căn cứ về trường hợp của mình.

Thưa luật sư, Vào ngày ngày 9 tháng 10 năm 2016 lúc 9 giờ 41 phút sáng tôi thức dậy thì phát hiện ra 5 nhóm cộng đồng buôn bán (buy and sell group) với tổng lượng thành viên hơn 2300000 bị chiếm quyền admin với tổng giá trị lên đến 15.000.000 vnd và sau một thời gian tìm hiểu tôi biết thông tin của thủ phạm. Qua nội dung sự việc như trên tôi xin hỏi luật sư như sau : - Tôi có nên làm đơn lên Công an Thành Phố HCM. Và nếu làm đơn lên công an thành phố thì phải làm như thế nào ? Nội dung áp dụng theo điều luật nào không ? Tôi xin cảm ơn.

Trường hợp của bạn có thể cấu thành nên tội sử dụng trái phép thông tin trên mạng và trong máy tính:

Điều 226. Tội sử dụng trái phép thông tin trên mạng và trong máy tính:

1. Người nào sử dụng trái phép thông tin trên mạng và trong máy tính, cũng như đưa vào mạng máy tính những thông tin trái với quy định của pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng, đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến năm năm:

a) Có tổ chức;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Theo đó, bạn có thể tố cáo hành vi này đến cơ quan công an. Theo đó, bạn có thể làm đơn tố giác đến cơ quan công an Thành phố Hồ Chí Minh để trình báo.

Về cách viết, bạn có thể tham khảo Mẫu đơn tố giác tội phạm của chúng tôi.

Em chào A/C. Em có đi làm ở một công ty dịch vụ nhưng hết thời gian hợp đồng thời vụ 3 tháng. Em có làm tháng thứ 4 nhưng do chưa hết tháng bọn em đình công xong thì đến tháng lương bên công ty không trả lương tháng thứ tư mà công ty đó giải thế rồi giám đốc bỏ trốn. Như vậy em có nên đi thưa với công an về tội chiếm đoạt tài sản không ạ ?

Theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Luật doanh nghiệp 2014 về trường hợp giải thể như sau:

" 2. Doanh nghiệp chỉ được giải thể khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác và doanh nghiệp không trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án hoặc cơ quan trọng tài. Người quản lý có liên quan và doanh nghiệp quy định tại điểm d khoản 1 Điều này cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ của doanh nghiệp."

Các khoản nợ được hướng dẫn tại khoản 5 Điều 202 Luật doanh nghiệp 2014 bao gồm:

"4. Các khoản nợ của doanh nghiệp được thanh toán theo thứ tự sau đây:

a,Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác của người lao động theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết;

Theo đó, khi công ty bạn giải thể bạn sẽ được thanh toán các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc và bảo hiểm xã hội ( nếu đủ điều kiện). Trường hợp công ty không tiến hành trả lương cho bạn thì bạn có thể đưa tranh chấp này ra cơ quan hòa giải nếu không giải quyết được có thể khởi kiện ra tòa án để được giải quyết.

Chào luật sư. Em có việc muốn nhờ luật sư tư vấn giúp ạ. Trước đây em và anh G có quan hệ tình cảm, lúc đó em không biết là anh ta có vợ con rồi nên cũng có nhận lời yêu anh G. Trong thời gian đó em có một chiếc xe wave honda . Và em tính đổi sang chiếc xe vision nhưng vì chưa đủ tiền nên em chưa đổi sau đó anh G đã bán chiếc xe của em và đứng ra mua chiếc xe vision trả góp và trả trước số tiền 20tr còn nợ lại 18tr Sau đó vì biết anh có vợ con và gia đinh anh ngăn cản nên em đã chia tay và vào nam sống nhưng anh G không chịu buông tha em, anh cố tình đăng hình em và anh ta lên fakebook và nhắn tin cho bạn bè em. Chưa dừng lại anh ta còn làm đơn kiện em chiếm đoạt chiếc xe của anh vì xe em chưa sang tên đổi chủ và đăng ký mang tên anh ta. Giờ nếu tòa án có giấy triệu tập thì em phải làm sao ạ. Em đã trả cho anh ta tiền và có thời gian chung sống với anh ta ạ . Mà chiếc xe giờ đã bị mất xin luật sư tư vấn dùm em. Em cám ơn nhiều ạ.

Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định như sau:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Theo đó, để cấu thành nên tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội phải có hành vi dùng thủ đoạn gian dối, đưa ra thông tin sai sự thật để khiến người khác tin và đưa tài sản cho họ và chiếm đoạt luôn tài sản đó. Theo đó, như thông tin bạn cung cấp, hành vi của bạn không cấu thành nên tội này cho nên người kia không có quyền tố cáo bạn về tội này. Nếu cơ quan điều tra triệu tập thì bạn có thể trình bày rõ sự việc và chứng minh việc mua xe là có 1 phần tiền của bạn.

Thưa luật sư, Tôi được sự giới thiệu của bạn bè về dịch vụ tư vấn luật của Quý công ty. Tôi cần sự giúp đỡ của quý công ty về giải quyết về nội dung công việc tôi trình bầy dưới đây: Đó là về việc ( Chiếm đoạt tiền chạy việc với số tiền 420 triệu VNĐ) Nội dung: Để chạy việc cho vợ tôi gia đình có quen biết cô Vân, cô này có nói là quen biết Giám đốc bệnh viện và cô nay là em đằng xa của gia đình bên vợ. Để chạy được việc, cô này yêu cầu: Lần 1 đưa 400tr nvđ và cũng mẹ tôi đến trực tiếp phòng Giám đốc bàn giao tiền ( Nhưng mẹ tôi đứng ngoài, cô này vào phòng giám đốc bàn giao tiền và ra người không ). Lần 2 cô lại yêu câu đưa tiếp 20tr nvđ để lo quà cáp cho hội đồng chầm điểm thi Tổng số tiền là 420 triệu VNĐ. Sau khi bàn giao với số tiền như trên và chờ đợi kết quả thi cử thì biết rằng vợ tôi đã trượt đợt thi vừa rồi. Đến hỏi cô sao chạy tiền rồi mà vẫn trượt thi cô ấy bảo đã rút tiền chạy việc ra làm việc khác. Qua nhiều lần đề nghị hoàn trả số tiền trên cô ấy có hẹn rất nhiều lần mà chưa trả Bằng chứng: File ghi âm giao nhận tiền, đòi tiền, giấy tờ ký kết giao kèo. Vậy với nội dung như trên tôi mong muốn Quý công ty tư vấn giúp gia đình tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn.

Trường hợp này, bạn cần phân biệt hai trường hợp như sau:

Thứ nhất, người cô kia dùng thủ đoạn gian dối tức là nói dối bạn về việc người này có quen giám đốc và việc xin được việc cho vợ bạn chứ người này không hề quen biết và có khả năng để xin nhằm chiếm đoạt số tiền của bạn thì bạn có thể tố cáo hành vi này với cơ quan công an về Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 139 BLHS 1999.

Thứ hai, người này không hề có ý định muốn chiếm đoạt tài sản của bạn tức thông tin mà cô ta cung cấp là hoàn toàn đúng sự thật. Theo đó, nếu bạn có đầy đủ giấy giao nhận tiề, file ghi âm... tài liệu về việc giao tiền cho người này thì bạn có thể khởi kiện cô ta tại Tòa án dân sự để đòi lại tiền.

Tôi có 20 công tầm nhỏ trồng lúa, tôi bị người kế ranh chiếm đoạt 1 công tầm nhỏ. Tôi xin hỏi làm thế nào để có thể lấy lại 1 công đó? Mong được luật sư giúp đỡ. Xin cám ơn.

Theo quy định của Điều 202 Luật Đất đai năm 2013 thì trường hợp này bạn có thể đưa tranh chấp ra UBND để giải quyết. Nếu quyết định giải quyết của UBND thuyết phục thì bạn có thể tiến hành khởi kiện tranh chấp đất đai tại Tòa án để được giải quyết theo quy định của pháp luật.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua qua email: để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Bị lừa tiền qua facebook thì phải làm gì ? Làm sao để tố cáo khi bị lừa đảo

5. Tố giác tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Công ty TNHH Đầu tư Bất động sản Hoàng Anh GL( Công ty), trụ sở 52 Đông Du, P. Bến Nghé, quận 1, TP. HCM, ĐT 08.6272.3549; 08.6276.4584. lừa tôi thuê công ty làm môi giới bán bất động sản, tôi ký hợp đồng thỏa thuận với công ty do ông Hoảng Dình Côn, làm giám đốc:
Công ty chịu trách nhiệm rao bán và môi giới cho người mua đất của tôi, trong thời hạn 1 tháng. Nếu bán được tôi trả cho công ty 0,3% giá bán, nếu không bán được, công ty hoàn lại cho tôi số tiền 1.500.000đ ( một triệu rưởi). Đến ngày hết hợp đồng tôi liên hệ với công ty nhiều lần nhưng không được giải quyết, ngày 24/5.2016, tôi đến địa chỉ trên thì được biết công ty đã thanh lý hợp đồng với bên cho thuê trước đó rồi!. Trong trường hợp này tôi tố cáo với cơ quan nào? tiền lừa đảo tôi chỉ một triệu rưỡi, không đáng gì, nhưng chỉ sở chúng còn lừa gạt nhiều người khác nữa ?
Cảm ơn luật sư nhiều

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến: 1900.6162

Trả lời:

Theo như bạn trình bày thì bạn ký hợp đồng với công ty này và thỏa thuận nếu không bán được sẽ hoàn trả tiền cho bạn, nhưng khi hết hợp đồng thì bạn không được trả lại. Trong trường hợp này để bảo vệ quyền lợi của mình bạn có thể khởi kiện ra tòa án để được giải quyết. đây là tranh chấp dân sự về thực hiện hợp đồng thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án theo Điều 25 khoản 3 Văn bản hợp nhất bộ luật tố tụng dân sự năm 2013:

Điều 25 Những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án

3. Tranh chấp về hợp đồng dân sự.

Bạn hỏi về tố cáo tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự thì theo

Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định về mức án xử phạt hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

A) Có tổ chức;

B) Có tính chất chuyên nghiệp;

C) Tái phạm nguy hiểm;

D) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

Đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

E) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

G) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

A) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

B) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

A) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

B) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Như vậy rõ ràng bạn ký hợp đồng với ông giám đốc này nhưng khi hết hợp đồng ông ý không thực hiện như trong cam kết nên trường hợp của bạn chưa được coi là dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Vì thể trường hợp của bạn sẽ được giải quyết theo quy định của pháp luật dân sự

Bạn sẽ gửi đến tòa án nơi bị đơn cư trú nếu bị đơn là tổ chức thì là trụ sở của tổ chức đó

Điều 35 Khoản 1 Bộ luật tố tụng dân sự

Điều 35 Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;

Về đơn khởi kiện bạn thực hiện theo quy định:

Điều 164 Hinh thức nội dung đơn khởi kiện

1. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện phải làm đơn khởi kiện.

2. Đơn khởi kiện phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;

b) Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện;

c) Tên, địa chỉ của người khởi kiện;

d) Tên, địa chỉ của người có quyền và lợi ích được bảo vệ, nếu có;

đ) Tên, địa chỉ của người bị kiện;

e) Tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nếu có;

g) Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

h) Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng, nếu có.

3. Người khởi kiện là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ; người khởi kiện là cơ quan, tổ chức thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn; trường hợp khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự thì đơn khởi kiện do người đại diện theo pháp luật của những người này ký tên hoặc điểm chỉ. Kèm theo đơn khởi kiện phải có các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của người khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp.

Trường hợp người khởi kiện không biết chữ, không nhìn được, không thể tự mình ký tên hoặc điểm chỉ thì phải có người làm chứng và người này phải ký Xác nhận trước mặt người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp Xã.

Người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp Xã chứng nhận trước mặt người khởi kiện và người làm chứng.

Điều 165 Tài liệu chứng cú kèm theo

Người khởi kiện phải gửi kèm theo đơn khởi kiện tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc gì về ý kiến tư vấn xin hãy liên hệ với tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến: 1900.6162 để được tư vấn trực tiếp.

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Có lấy lại được tiền khi đã bị lừa chuyển khoản mà không nhận được hàng đã đặt qua mạng ?