1. Quy hiện hiện hành yêu cầu cơ sở trợ giúp xã hội sẽ phải bố trí tối thiểu bao nhiêu nhân viên tâm lý tại cơ sở ?

Cơ sở trợ giúp xã hội là một hệ thống tổ chức và cơ sở vật chất nhằm cung cấp các dịch vụ hỗ trợ và giúp đỡ cho những người gặp khó khăn trong xã hội. Theo quy định tại Điều 2 Nghị định 103/2017/NĐ-CP, cơ sở trợ giúp xã hội được phân thành hai loại chính: cơ sở trợ giúp xã hội công lập và cơ sở trợ giúp xã hội ngoài công lập.

- Cơ sở trợ giúp xã hội công lập được thành lập, quản lý và đầu tư xây dựng bởi các cơ quan nhà nước. Đây là những cơ sở được nhà nước cung cấp nguồn lực và kinh phí để thực hiện các nhiệm vụ trợ giúp xã hội. Các cơ sở này có thể bao gồm trung tâm cai nghiện ma túy, trung tâm chăm sóc người cao tuổi, trung tâm nuôi dưỡng trẻ mồ côi và trẻ bị bỏ rơi, trung tâm hỗ trợ người tàn tật, và nhiều loại cơ sở khác.

- Còn cơ sở trợ giúp xã hội ngoài công lập được xây dựng và quản lý bởi các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước. Những cơ sở này tự chịu trách nhiệm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và đảm bảo nguồn kinh phí để thực hiện các hoạt động trợ giúp xã hội. Chẳng hạn, có thể có các tổ chức phi chính phủ, các công ty từ thiện, các tổ chức tôn giáo hoặc các cá nhân giàu có đóng góp tài chính và nhân lực để hỗ trợ những người có hoàn cảnh khó khăn.

Theo quy định tại Điều 5 của Thông tư 33/2017/TT-BLĐTBXH về Định mức nhân viên tại cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở trợ giúp xã hội sẽ phải bố trí ít nhất một nhân viên tâm lý.

- Điều này có nghĩa là việc có ít nhất một nhân viên tâm lý là bắt buộc tại mỗi cơ sở trợ giúp xã hội. Công việc của nhân viên tâm lý là cung cấp hỗ trợ tâm lý và tư vấn cho các cá nhân hoặc gia đình gặp khó khăn, có nhu cầu tâm lý và cần sự hỗ trợ trong quá trình giải quyết vấn đề của họ.

- Việc bố trí nhân viên tâm lý là cần thiết để đảm bảo rằng cơ sở trợ giúp xã hội có khả năng đáp ứng nhu cầu tâm lý của cộng đồng và cung cấp hỗ trợ tâm lý chuyên nghiệp cho những người cần.

- Ngoài việc bố trí nhân viên tâm lý, quy định cũng chỉ ra số lượng nhân viên khác tại các phòng nghiệp vụ và khoa trong cơ sở trợ giúp xã hội. Đối với phòng nghiệp vụ, số lượng nhân viên được xác định dựa trên vị trí công tác và khối lượng công việc thực tế. Tương tự, số lượng nhân viên trong các khoa cũng được xác định theo cách tương tự.

- Ngoài ra, quy định cũng đề cập đến việc bố trí nhân viên chăm sóc trực tiếp đối tượng tại cơ sở. Ví dụ, một nhân viên chăm sóc trẻ em có thể phụ trách chăm sóc từ một đến sáu trẻ em bình thường dưới 6 tuổi hoặc từ một đến mười trẻ em bình thường từ 6 tuổi đến dưới 16 tuổi. Hơn nữa, nhân viên chăm sóc trực tiếp cũng có thể chăm sóc tối đa bốn trẻ em khuyết tật, trẻ em tâm thần hoặc trẻ em nhiễm HIV/AIDS từ 18 tháng tuổi đến dưới 6 tuổi, và tối đa năm trẻ em khuyết tật, trẻ em tâm thần hoặc trẻ em nhiễm HIV/AIDS từ 6 tuổi đến dưới 16 tuổi.

Tóm lại, theo quy định tại Thông tư 33/2017/TT-BLĐTBXH, cơ sở trợ giúp xã hội sẽ phải bố trí ít nhất một nhân viên tâm lý tại cơ sở. Điều này nhằm đảm bảo rằng cơ sở trợ giúp xã hội có đủ nguồn lực để cung cấp hỗ trợ tâm lý chuyên nghiệp cho những người cần.

 

2.  Có phải đảm bảo cho các đối tượng các tiêu chuẩn về văn hóa, thể thao, thể dục và giải trí ?

Cơ sở trợ giúp xã hội có trách nhiệm đảm bảo các đối tượng đạt được các tiêu chuẩn về văn hóa, thể thao, thể dục và giải trí. Điều này được quy định rõ trong Điều 10 của Thông tư 33/2017/TT-BLĐTBXH. Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn về nội dung này, chúng ta cần đi vào chi tiết các tiêu chuẩn cụ thể.

- Về mặt văn hóa, cơ sở trợ giúp xã hội phải tạo môi trường thích hợp để các đối tượng có thể thể hiện tình cảm, suy nghĩ, ý tưởng và sự sáng tạo của mình. Đồng thời, các đối tượng cũng cần được cung cấp cơ hội tham gia vào các hoạt động tôn giáo và xã hội. Ngoài ra, họ cũng cần được học văn hóa truyền thống của dân tộc và tôn trọng quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng theo quy định của pháp luật Việt Nam. Quan trọng hơn, các đối tượng cần được tự do lựa chọn tôn giáo mà không bị phân biệt đối xử, ép buộc theo một tôn giáo cụ thể để được chăm sóc trong cơ sở trợ giúp.

- Về thể dục, thể thao, vui chơi và giải trí, cơ sở trợ giúp xã hội cần tạo điều kiện cho các đối tượng tham gia vào các hoạt động này phù hợp với lứa tuổi và người dân trong cộng đồng. Đặc biệt, cần có sự hỗ trợ đặc biệt để người khuyết tật có thể tham gia vào các hoạt động này một cách an toàn. Ngoài ra, các đối tượng cần được tạo cơ hội để làm quen, kết bạn với những người sống xung quanh, bạn học ở trường và trong cộng đồng. Họ cũng cần được gặp gỡ gia đình, người thân, bạn bè, trừ trường hợp có nguy cơ đe dọa đến sự an toàn của các đối tượng.

Tổng quan lại, cơ sở trợ giúp xã hội có trách nhiệm đảm bảo rằng các đối tượng được đáp ứng các tiêu chuẩn về văn hóa, thể thao, thể dục và giải trí. Điều này đảm bảo rằng mọi người, bao gồm cả những người khuyết tật và những người ở hoàn cảnh khó khăn, đều có cơ hội tham gia vào các hoạt động xã hội, phát triển bản thân và tận hưởng cuộc sống đầy đủ và hạnh phúc.

 

3. Đối tượng bảo trợ xã hội được chăm sóc, nuôi dưỡng trong cơ sở trợ giúp xã hội là gì?

Theo Điều 24 Nghị định 20/2021/NĐ-CP, đối tượng bảo trợ xã hội được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội bao gồm một số nhóm đối tượng sau đây.

- Đối tượng bảo trợ xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn:

  • Đối tượng quy định tại các khoản 1 và 3 Điều 5 Nghị định 20/2021/NĐ-CP, nghĩa là những người khó khăn không tự lo được cuộc sống và không có người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng.
  • Người cao tuổi thuộc diện được chăm sóc, nuôi dưỡng trong cơ sở trợ giúp xã hội theo quy định của pháp luật về người cao tuổi.
  • Trẻ em khuyết tật, người khuyết tật thuộc diện được chăm sóc, nuôi dưỡng trong cơ sở trợ giúp xã hội theo quy định của pháp luật về người khuyết tật.

- Đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp:

  • Nạn nhân của bạo lực gia đình, nạn nhân bị xâm hại tình dục, nạn nhân bị buôn bán, nạn nhân bị cưỡng bức lao động.
  • Trẻ em, người lang thang xin ăn trong thời gian chờ đưa về nơi cư trú.
  • Đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp khác theo quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

- Người chưa thành niên, người không còn khả năng lao động:

  • Đối tượng thuộc diện chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

- Đối tượng tự nguyện sống tại cơ sở trợ giúp xã hội:

  • Người cao tuổi thực hiện theo hợp đồng ủy nhiệm chăm sóc.
  • Người không thuộc diện quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 24 Nghị định 20/2021/NĐ-CP, không có điều kiện sống tại gia đình, có nhu cầu vào sống tại cơ sở trợ giúp xã hội.

Xem thêm >>> Đối tượng bảo trợ xã hội được chăm sóc, nuôi dưỡng trong cơ sở trợ giúp xã hội, nhà xã hội

Nếu quý khách hàng gặp bất kỳ vấn đề hay khó khăn nào liên quan đến bài viết hoặc vấn đề pháp lý, chúng tôi rất mong nhận được sự phản hồi của quý khách. Chúng tôi cam kết luôn sẵn lòng hỗ trợ quý khách giải quyết mọi thắc mắc và đảm bảo quyền lợi pháp lý của quý khách.

Để đảm bảo quá trình tư vấn và hỗ trợ diễn ra một cách thuận lợi, chúng tôi đã thiết lập một tổng đài tư vấn pháp luật, với số điện thoại 1900.6162. Quý khách hàng có thể gọi số này để được tư vấn trực tiếp từ các chuyên gia pháp luật giàu kinh nghiệm của chúng tôi. Chúng tôi cam kết sẽ lắng nghe và đáp ứng mọi yêu cầu, giúp quý khách hiểu rõ hơn về vấn đề mà quý khách quan tâm.

Ngoài ra, nếu quý khách thích sử dụng email để liên hệ, chúng tôi cung cấp địa chỉ email lienhe@luatminhkhue.vn. Quý khách có thể gửi email cho chúng tôi, trong đó nêu rõ vấn đề cần tư vấn hoặc giải quyết. Đội ngũ chuyên gia pháp luật của chúng tôi sẽ nhanh chóng phản hồi và cung cấp những thông tin hữu ích để giúp quý khách giải quyết vấn đề một cách hiệu quả.