1. Phải làm gì khi bị lừa tiền do lợi dụng lòng tin ?

Xin chào luật sư, tôi muốn hỏi: Khoảng giữa năm 2017 tôi có quen biết 1 người. Anh H nói với tôi là có quen với công ty hỗ trợ vay vốn tài chính ở Sài Gòn. Công ty có hỗ trợ vay qua ngân hàng mà không cần thế chấp tài sản chỉ cần chứng minh nhân dân và hộ khẩu là sẽ vay vốn được từ 100 triệu lên đến 500 triệu.
Nhưng để được làm hồ sơ vay vốn thì phải đưa phí dịch vụ tổng cộng là 12% trên số tiền muốn vay. Số phí phải đưa trước thấp nhất là 3% sẽ được tiến hành làm hồ sơ vay. Thời gian được giải ngân anh ta hẹn là 2 tháng. Nếu không được giải ngân sẽ trả lại toàn bộ số tiền phí đã nhận. Vì tin tưởng là đồng nghiệp làm chung công ty nên tôi và 1 số anh chị đã đưa hồ sơ và tiền phí trước cho anh ta để làm hồ sơ vay vốn. Số tiền tôi và nhiều đồng nghiệp khác đưa anh ta lên tới hàng trăm triệu đồng. Nhiều anh chị có biên lai chuyển tiền internet banking và giấy tiền nhận từ anh ta. Nhưng từ lúc nhận tiền và hồ sơ đến nay đã hơn 6 tháng thì phía anh ấy chối bỏ hoàn toàn trách nhiệm là ngân hàng không còn hỗ trợ cho vay. Anh chị em chúng tôi có đề nghị anh ấy trả lại số tiền phí đã gửi trước đó nhưng anh không hoàn trả như đã hứa. Hiện tại anh hà đã chặn tất cả những thông tin liên lạc của chúng tôi.
Chúng tôi nhận thấy đây là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Hôm nay chúng tôi xin được gửi gmail đến công ty luật có thể tư vấn cho chúng tôi để giải quyết vụ việc trên ?
Mong phía công ty tư vấn cho chúng tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn.

Trả lời:

Theo như những tình tiết mà bạn cung cấp, chúng tôi cho rằng anh H đã đủ cấu thành tội lừa đảo , chiếm đoạt tài sản theo điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bởi vì hành vi bạn nói trên là hành vi dùng thủ đoạn gian dối, lừa gạt để khiến người khác tin tưởng, giao tài sản cho mình.

Tuy nhiên, tôi chưa biết chính xác số tiền các bạn bị lừa là bao nhiêu nhưng số tiền lên tời hàng trăm triệu thì bạn có thể tham khảo khoản 2, khoản 3, khoản 4 của điều luật này để biết khung hình phạt của anh H có thể phải chịu. Các bạn nên báo cáo ngay vụ việc này với cơ quan Công an hoặc Cảnh sát nơi bạn cư trú để cơ quan điều tra tiến hành xem xét, điều tra.

"Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

g) (bãi bỏ)

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) (bãi bỏ)

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) (bãi bỏ)

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến về hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.0159 để được giải đáp. Trân trọng./.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.0159 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Ép buộc người khác ký giấy nợ bị xử lý như thế nào ? Thuê đòi nợ có vi phạm không ?

2. Lừa gạt vẽ hình lên cơ thể người khác có vi phạm pháp luật không ?

Kính chào luật sư! tôi có vấn đề muốn nhờ luật sư tư vấn giúp: Cách đây khoảng nửa tháng, bạn tôi (là sinh viên) bị một người đàn ông trong tiệm hớt tóc nhờ làm mẫu để vẽ hình nghệ thuật lên vai (với lý do anh ta đang thi cuộc thi về đất nước Việt Nam).
Cô ấy thấy bảng hiệu của anh ta là cây kéo vàng nên cũng tin anh ta nói về cuộc thi là thật. Lúc đầu cô ấy cũng không có ý định giúp đỡ vì không biết anh ta là người như thế nào, nhưng sau khi anh ta thuyết phục cuối cùng cô ấy cũng nhận lời làm mẫu. Lúc đầu anh ta nói chỉ vẽ ở vai nhưng đến lúc vẽ thì anh ta vẽ xuống ngực. Cô ấy bắt đầu không cho anh ta tiếp tục vẽ, nhưng anh ta nói đã vẽ như vậy cho nhiều người rồi nên chuyện này là bình thường. Sau khi vẽ xong anh ta xin chụp hình lại để gửi về cuộc thi xin duyệt. Anh ta cũng khẳng định là sẽ không chụp hình mặt mà chỉ chụp hình phần vẽ. Khi vẽ xong anh ta nói là còn vẽ thực hành thêm vài lần nữa, lúc đó cô ấy không chịu, anh ta nói là anh ta có chụp hình của cô ấy lại và còn quay clip nữa, nếu cô ấy không chịu vẽ tiếp anh ta sẽ đăng lên mạng. (Tôi chẳng biết nội dung của clip đó là gì vì cô ấy không nói rõ). Cô ấy khóc xin anh ta xóa hình ảnh và clip. Nhưng anh ta nói anh ta là người có uy tín đã đăng kí tên cô ấy và gửi hình của cô ấy lên hội đồng cuộc thi rồi, nếu cô ấy không chịu vẽ tiếp anh ta sẽ bị báo chí tẩy chay, sự nghiệp mười mấy năm sẽ bị cô ấy hủy hoại. Lúc đó nếu cô ấy không hứa cho anh ta vẽ tiếp anh ta sẽ không cho cô ấy về sẽ đăng hình của cô ấy lên mạng. Cô ấy đành hứa với anh ta để được về. Qua hôm sau, anh ta gọi điện nói cô ấy chỉ cần qua nói chuyện với anh ta thì anh ta sẽ bỏ qua và xóa clip đã quay. Và anh ta nói sẽ bỏ qua chuyện clip và nếu nhà báo có điện hỏi cô ấy thì nói là cô ấy bi bệnh không thể vẽ tiếp được.
Từ đó cô ấy không còn đi ngang tiệm hớt tóc đó, đồng thời cũng chặn điện thoại của anh ta. Anh ta nói cô ấy tránh mặt anh ta. Hôm qua, anh ta nhắn tin nói nếu cô ấy không qua gặp anh ta thì 1 hoặc 2 ngày anh ta sẽ đăng clip lên mạng thật. Hiện tại cô ấy chưa nói cho gia đình biết, cô ấy rất lo sợ trong 1, 2 ngày tới chuyện gì sẽ xảy ra. Cô ấy có ý định sẽ nhờ công an can thiệp nhưng không biết bắt đầu từ đâu (cô ấy còn giữ lại một số tin nhắn của anh ta). Tôi viết thư này nhờ luật sư giải đáp và giúp đỡ chúng tôi. Trước mắt chúng tôi cần phải làm gì để đối phó với tình huống trên vì có thông tin anh ta còn có băng nhóm, chúng tôi đều là sinh viên nữ.
Xin chân thành cảm luật sư!
Người gửi: P.H

>> Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900.0159

Trả lời:

Kính gửi bạn P.H! Từ những thông tin bạn gửi về cho chúng tôi. tôi xin phép được giải đáp thắc mắc của bạn như sau:

Hành vi của người được coi là cây kéo vàng đã lấy cơ vẽ hình mẫu và cụ thể là vẽ lên vai bạn của bạn nhưng thực tế anh ta lại vẽ xuống cả ngực .Và nén quay clip chụp ảnh dọa nạt đăng ảnh clip có hình ảnh ảnh của bạn gái đó lên mạng. Nếu sự việc này có xảy ra thì anh ta có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về ''Tội làm nhục người khác'' theo như điều Điều 155 BLHS:

"Điều 155. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người đang thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy d, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%75.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% tr lên76;

b) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm."

Như vậy với hành vi trên bạn có thể làm đơn tố cáo tới cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án theo như Điều 144 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

"Điều 144. Tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

1. Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền.

4. Tố giác, tin báo về tội phạm có thể bằng lời hoặc bằng văn bản."

Mặt khác bạn có thể gửi đơn tố cáo trực tiếp tới Tòa án nơi hành vi mà người thợ hớt tóc đó đã đăng ảnh và clip bạn gái đó nên mạng theo như quy định tại khoản 1 Điều 269 BLTTHS:

"Điều 269. Thẩm quyền theo lãnh thổ

1. Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự là Tòa án nơi tội phạm được thực hiện. Trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi kết thúc việc điều tra."

Trên đây là những phân tích căn cứ pháp lý của tôi hi vọng phần nào giải đáp được thắc mắc của bạn.

>> Xem thêm:  Ép người khác ký giấy vay nợ có thể bị truy tố trách nhiệm hình sự về tội cưỡng đoạt tài sản

3. Gia đình em bị người ta lừa hứa đưa đi du học tại Hàn Quốc ?

Xin chào công ty Luật Minh Khuê! Gia đình em bị người ta lừa hứa làm đi du học tại Hàn Quốc (hứa sau khi nộp tiền thì 1 tuần sau có visa xuất cảnh. Nếu không đi được thì sẽ hoàn lại 100%) sau khi gia đình em nộp tiền rồi 220 triệu nhưng chờ đợi mãi họ cứ hứa, hẹn mãi. Đến nay đã gần 1 năm trôi qua.
Bây giờ họ đã gửi trả lại hồ sơ và 60 triệu còn 160 triệu họ cứ hứa hẹn mãi không chịu trả còn thách thức gia đình em kiện pháp luật hay công an gì cũng được ?
Nhờ luật sư tư vấn giúp em với. Mong nhận được hồi âm sớm.
Xin chân thành cám ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến gọi: 1900.0159

Trả lời:

Theo như nội dung thư mà bạn yêu cầu, gia đình bạn có sử dụng dịch vụ để đi du học Hàn Quốc. Tuy nhiên, khi dịch vụ này không được thực hiện, bên thực hiện dịch vụ lại không thanh toán lại khoản phí mà bạn đã đóng. Trong trường hợp này, bạn có thể lựa chọn một trong các cách giải quyết sau đây:

Hướng giải quyết thứ nhất: Bạn có thể yêu cầu bên làm dịch vụ phải hoàn trả số tiền còn lại là 160 triệu đồng. Nếu họ không tiến hành hoàn trả, bạn có thể tiến hành khởi kiện vụ án dân sự theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Nếu không có yếu tố nước ngoài trong trường hợp của bạn thì tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân cấp huyện nơi tổ chức làm dịch vụ (bị đơn) có trụ sở.

Hướng giải quyết thứ hai: Hành vi của bên làm dịch vụ có dấu hiệu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của Điều 174 BLHS về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

"Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.

..."

Với số tiền lên đến 220 triệu đồng, nếu bên dịch vụ kia có dấu hiệu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, sẽ rơi vào khoản 3 Điều 174 BLHS:

"3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

..."

Theo đó, có thể bên làm dịch vụ đã sử dụng thủ đoạn cung cấp dịch vụ du học để chiếm đoạt tài sản của gia đình bạn. Tuy nhiên, để khẳng định một cách chắc chắn nhất thì yêu cầu phải qua quá trình điều tra, xác minh của cơ quan có thẩm quyền. Trong trường hợp nghi ngờ có dấu hiệu tội phạm, bạn có thể tố giác với cơ quan công an, tòa án, viện kiểm sát theo quy định của Điều 144 BLTTHS vnhư sau:

"Điều 144. Tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

1. Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền.

4. Tố giác, tin báo về tội phạm có thể bằng lời hoặc bằng văn bản."

>> Xem thêm quy định: Quyết định số 05/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ : Quy định việc công dân Việt Nam ra nước ngoài học tập

Khi nhận được tin báo tố giác của bạn, cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành điều tra, xác minh. Nếu có dấu hiệu tội phạm họ sẽ tiến hành khởi tố vụ án hình sự để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho bạn.

Trân trọng.

>> Xem thêm:  Làm giả bảng lương để vay vốn ngân hàng có bị truy cứu trách nhiệm hình sự ?

4. Con gái bị lừa quan hệ khi vừa đủ 18 tuổi có thể kiện được không ?

Chào luật sư công ty luật Minh Khuê, xin hỏi: Cháu nhà tôi sinh ngày 23/4/1999 vừa tròn 18 cách đây 2 tháng. Trước khi cháu 18 tuổi cháu gia đình phát hiện quen bạn trai lớn hơn cháu 5 tuổi sinh năm 1994. Gia đình cho phép cháu quen nhau vì thấy cậu trai kia trong cũng đàng hoàng,Gia đình không biết 2 cháu đã phát sinh quan hệ.
Cháu còn trẻ nên không hiểu rõ vấn đề, không dám nói với gia đình. Sau khi lừa gạt cháu ngon ngọt để tiện quan hệ cậu ta bỏ cháu và quen người khác chỉ mới 16 tuổi, phủ nhận trách nhiệm với cháu. Xin hỏi luật sư gia đình tôi có thể kiện cậu ta lừa gạt không ?
Chân thành cảm ơn luật sư.

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.0159

Trả lời:

Bộ luật hình sự năm 2015 quy định nhiều loại tội phạm về xâm phạm tình dục như Tội hiếp dâm (Đ141), tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Đ142), tội cưỡng dâm (Đ143), tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Đ144), Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Đ145)Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (Đ146). Mội tội phạm có quy định về các mặt để cấu thành riêng.

Trong tình huống của gia đình bạn chúng tôi phân tích như sau: Con bạn và bạn trai có quan hệ tình cảm với nhau, được gia đình đồng ý . Việc hai cháu có quan hệ tình dục với nhau cần được xác định là quan hệ tự nguyện hay ép buộc.

TH1: Nếu hai cháu có quan hệ tình dục tự nguyện với nhau, được hiểu là hành vi quan hệ xuất phát từ tình cảm đôi bên, không có hành vi đe dọ dùng vũ lực, ép buộc thì hành vi này không cấu thành tội phạm.

Ví dụ tội giao cấu với trẻ em là hành vi giao cấu có sự đồng ý, chấp nhận của nạn nhân mặc dù người phạm tội không có bất kỳ thủ đoạn nào ép buộc, khống chế. Tuy nhiên tội giao cấu với trẻ em theo quy định đối tượng tác động của tội phạm là trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi. Con bạn đã đủ 18 tuổi thế nên hành vi quan hệ tình dục tự nguyện của cháu và bạn trai là không vi phạm quy định của pháp luật. Hơn nữa bạn nữ tại thời điểm có hành vi quan hệ đã đủ 18 tuổi, theo quy định của pháp luật Việt Nam là người đã thành niên, đủ điều kiện chịu mọi trách nhiệm dân sự, hình sự từ hành vi so mình gây ra. Do đó cái mốc về độ tuổi đủ điều kiện cấu thành tội giao cấu với trẻ em không phải là 18 tuổi như nhiều người vẫn nhầm lẫn.

TH2: Nếu hai cháu có quan hệ tình dục nhưng là do bạn trai ép buộc, được hiểu là hành vi quan hệ do nam giới dùng sức mạnh vật chất đè, ép sự kháng cự của nạn nhân chống lại sự giao cấu như: Đè ngã, vật lận, giữ chân tay, ép vào góc tường..lợi dụng việc nạn nhân lâm vào tình trạng không thể chống cự được mục đích là giao cấu trái ý muốn với họ thì hành vi này cấu thành tội hiếp dâm.

Tuy nhiên trên thực tế nếu muốn khởi tố bạn trai về tội hiếp dâm thì gia đình bạn cần có chứng cứ tài liệu chứng minh được ví dụ như dấu vết bị trầy xước, bị bóp cổ , tinh trùng nam giới trên người nạn nhân; dấu vết còn lưu lại ở hiện trường; người làm chứng hay phim ảnh quay lại được. Nếu không có các chứng cứ trên mà chỉ có lời khai của nạn nhân thì chưa được coi là đủ điều kiện cấu thành tội hiếp dâm.

Như vậy về mặt tình cảm , bạn gái có thể bị bạn trai lừa dối và phản bội tuy nhiên về mặt pháp luật thì bạn trai chưa đủ điều kiện để bị khởi tố vụ án hình sự vì bất kỳ loại tội phạm nào. Nếu chẳng may bạn gái mang thai và sinh con thì theo luật hôn nhân và gia đình bạn trai có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc cũng như cấp dưỡng cho con.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

5. Hình phạt của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Hình phạt chính Hình phạt bổ sung Hình phạt chính Hình phạt bổ sung

- Bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

Có thể bị:

- Bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng ; và/hoặc

- Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm; và/hoặc

- Tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

- Bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

Có thể bị:

- Bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng ; và/hoặc

- Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm; và/hoặc

- Tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

- Bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

- Bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

- Bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

- Bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân

- Bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

- Bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

- Bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.

- Bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Nghĩa vụ trả nợ có được chuyển giao cho các con khi cha, mẹ vay nợ không ?