1. Người sử dụng lao động phải niêm yết công khai thông tin đóng bảo hiểm xã hội của người lao động hằng năm?

Theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, hàng năm người sử dụng lao động phải niêm yết công khai thông tin về việc đóng bảo hiểm xã hội của người lao động. Điều này được quy định rõ ràng trong khoản 8 Điều 21 của Luật Bảo hiểm xã hội. Trách nhiệm của người sử dụng lao động bao gồm việc cung cấp chính xác, đầy đủ và kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến việc đóng và hưởng bảo hiểm xã hội khi có yêu cầu từ cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền và cơ quan bảo hiểm xã hội.

- Theo đó, người sử dụng lao động cần niêm yết công khai thông tin về việc đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động định kỳ 06 tháng một lần. Đồng thời, khi người lao động hoặc tổ chức công đoàn yêu cầu, người sử dụng lao động cũng phải cung cấp thông tin về việc đóng bảo hiểm xã hội của người lao động.

- Hơn nữa, theo khoản 7 Điều 18 của Luật Bảo hiểm xã hội 2014, người lao động cũng có quyền yêu cầu người sử dụng lao động và cơ quan bảo hiểm xã hội cung cấp thông tin về việc đóng và hưởng bảo hiểm xã hội. Người lao động có quyền được cung cấp thông tin định kỳ 06 tháng một lần từ người sử dụng lao động về việc đóng bảo hiểm xã hội. Hơn nữa, cơ quan bảo hiểm xã hội cũng phải xác nhận về việc đóng bảo hiểm xã hội định kỳ hàng năm. Bên cạnh đó, người lao động cũng có quyền khiếu nại, tố cáo và khởi kiện về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật.

Tóm lại, theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội, hàng năm, người sử dụng lao động có trách nhiệm niêm yết công khai thông tin về việc đóng bảo hiểm xã hội của người lao động do cơ quan bảo hiểm xã hội cung cấp. Đồng thời, người lao động cũng có quyền yêu cầu người sử dụng lao động và cơ quan bảo hiểm xã hội cung cấp thông tin về việc đóng và hưởng bảo hiểm xã hội.

 

2. Xử phạt người sử dụng lao động không niêm yết công khai thông tin đóng bảo hiểm xã hội của người lao động?

Theo quy định tại Nghị định 12/2022/NĐ-CP, hình thức xử phạt hành chính đối với hành vi không niêm yết công khai thông tin đóng bảo hiểm xã hội của người lao động được quy định như sau:

- Người sử dụng lao động có thể bị xử phạt hành chính tối đa bao nhiêu tiền? Khoản 2 Điều 39 của Nghị định trên quy định các mức phạt cụ thể như sau:

- Đối với người sử dụng lao động, phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng nếu có một trong các hành vi sau đây:

+ Không niêm yết công khai thông tin đóng bảo hiểm xã hội của người lao động do cơ quan bảo hiểm xã hội cung cấp hàng năm

+ Cung cấp không đủ hoặc không cung cấp thông tin về đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp của người lao động khi có yêu cầu?

- Đồng thời, nếu người sử dụng lao động không thực hiện thủ tục xác nhận về việc đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động để người lao động hoàn thiện hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định, họ cũng có thể bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng. Tuy nhiên, mức phạt tối đa không quá 75.000.000 đồng cho mỗi người lao động.

- Ngoài ra, theo khoản 1 Điều 6 của Nghị định 12/2022/NĐ-CP, mức phạt tiền đối với các hành vi vi phạm hành chính nhiều lần được quy định như sau: Mức phạt tiền đối với cá nhân sẽ được áp dụng theo quy định tại Chương II, Chương III và Chương IV của Nghị định đó, trừ những trường hợp đã quy định khác. Mức phạt tiền đối với tổ chức sẽ bằng hai lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

Tóm lại, theo quy định trên, người sử dụng lao động không niêm yết công khai thông tin đóng bảo hiểm xã hội của người lao động do cơ quan bảo hiểm xã hội cung cấp có thể bị xử phạt vi phạm hành chính từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng. Lưu ý, mức phạt tiền trên áp dụng cho cá nhân, còn đối với tổ chức có cùng hành vi vi phạm, mức phạt sẽ gấp đôi, tương đương với 6.000.000 đồng.

 

3. Hình thức bổ sung với hành vi không niêm yết công khai thông tin đóng bảo hiểm xã hội của người lao động?

Trong trường hợp vi phạm quy định về việc không niêm yết công khai thông tin đóng bảo hiểm xã hội của người lao động, theo Nghị định 12/2022/NĐ-CP, có áp dụng hình thức xử phạt bổ sung. Điều 39 của Nghị định này quy định rõ các biện pháp xử phạt và khắc phục hậu quả đối với vi phạm này.

- Theo khoản 9 của Điều 39, hình thức xử phạt bổ sung áp dụng là đình chỉ hoạt động đánh giá an toàn, vệ sinh lao động từ 01 tháng đến 03 tháng đối với tổ chức đánh giá an toàn, vệ sinh lao động nếu có hành vi vi phạm quy định. Điều này có nghĩa là tổ chức đánh giá an toàn, vệ sinh lao động sẽ không được hoạt động trong khoảng thời gian từ 01 tháng đến 03 tháng như một hình thức xử phạt bổ sung.

- Ngoài ra, khoản 10 của Điều 39 cũng quy định về biện pháp khắc phục hậu quả. Đối với người sử dụng lao động, họ sẽ bị buộc đóng đủ số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm thất nghiệp cho cơ quan bảo hiểm xã hội, liên quan đến các hành vi vi phạm quy định tại khoản 5, 6, 7 của Điều này. Đồng thời, họ cũng phải nộp khoản tiền lãi tương đương với 02 lần mức lãi suất đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội bình quân của năm trước đối với số tiền chậm đóng, không đóng, trốn đóng hoặc chiếm dụng. Trong trường hợp không thực hiện, người sử dụng lao động có thể bị yêu cầu bởi người có thẩm quyền, ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc kho bạc nhà nước trích từ tài khoản tiền gửi của họ để nộp số tiền chưa đóng hoặc chậm đóng, cùng với khoản tiền lãi được tính theo lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt. Biện pháp khắc phục này áp dụng cho những hành vi vi phạm quy định tại các khoản 5, 6, 7 của Điều này trong khoảng thời gian từ 30 ngày trở lên.

Tóm lại, theo quy định của Nghị định, người sử dụng lao động vi phạm quy định không niêm yết công khai thông tin đóng bảo hiểm xã hội của người lao động sẽ bị xử phạt tiền. Ngoài ra, cũng có áp dụng hình thức xử phạt bổ sung, bao gồm đình chỉ hoạt động đánh giá an toàn, vệ sinh lao động đối với tổ chức đánh giá an toàn, vệ sinh lao động. Đồng thời,người sử dụng lao động cũng phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả bằng cách đóng đủ số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm thất nghiệp cho cơ quan bảo hiểm xã hội. Họ cũng phải nộp khoản tiền lãi tương đương với 02 lần mức lãi suất đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội bình quân của năm trước đối với các khoản tiền chậm đóng, không đóng, trốn đóng hoặc chiếm dụng. Trường hợp không thực hiện, người sử dụng lao động có thể bị yêu cầu trích từ tài khoản tiền gửi của họ để nộp số tiền chưa đóng hoặc chậm đóng, cùng với khoản tiền lãi tính theo lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước tại thời điểm xử phạt. Tất cả những biện pháp này được áp dụng khi vi phạm kéo dài từ 30 ngày trở lên.

Xem thêm >>> Lương tham gia bảo hiểm xã hội là gì? Cách tính tiền lương đóng BHXH

Trong trường hợp quý khách có bất kỳ thắc mắc hoặc vấn đề nào liên quan đến nội dung bài viết hoặc pháp lý, chúng tôi mong muốn được đồng hành cùng quý khách và sẵn lòng cung cấp sự hỗ trợ giải quyết một cách nhanh chóng và kịp thời. Để giúp quý khách giải đáp mọi thắc mắc, chúng tôi đã sắp đặt một số kênh liên hệ trực tiếp. Quý khách có thể gọi đến số hotline: 1900.6162 hoặc gửi email đến địa chỉ: lienhe@luatminhkhue.vn. Đội ngũ chuyên viên của chúng tôi sẽ nhanh chóng phản hồi và hỗ trợ quý khách trong quá trình giải quyết vấn đề.