1. Phái Trọng cung và Duy tiền - Điểm chính yếu

Nhiều tranh luận vẫn đang tiếp diễn liên quan đến chức năng cơ bản của Kinh tế Vĩ mô. Nhất là, những người ủng hộ Keynes và thời kỳ sau Keynes tán thành việc sử dụng nhiệm ý chính sách tài chính hay ngân sách như công cụ chính để ổn định hóa Kinh tế Vĩ mô với chính sách tiền tệ nhiệm ý sử dụng như sự kiểm soát phụ trợ. Những sắc lệnh nhiệm ý này đôi lúc được cho là “chính sách quản lý nhu cầu”. Theo quan điểm Keynes, kinh tế là nhu cầu sử dụng và chắp vá không đổi. (Thành công của những chính sách này rõ ràng bao hàm một công cụ thuộc chính phủ mạnh). Phái tiền tệ xét vấn đề từ một cách khác. Kinh tế về cơ bản ổn định và tự điều tiết, vai trò chính phủ (nhất là vai trò của Cục Dự trữ Liên bang) là phải cung cấp môi trường có thể dự đoán, ổn định trong đó tiến trình kinh tế được tháo mở hoạt động hữu hiệu nhất sao cho tối đa hóa phúc lợi kinh tế. Vì thế, chính phủ can thiệp tối thiểu, cân bằng ngân sách, bãi bỏ điều tiết kinh doanh và công nghiệp và quy tắc tăng trưởng tiền tệ là tất cả các bộ phận trong chính sách “trọn gói” của phái duy tiền. Thế nhưng, cả phái duy tiền lẫn những người thời kỳ sau Keynes đều nhấn mạnh “trọng cầu” của nền kinh tế.

Một quan điểm mới về Kinh tế Vĩ mô xuất hiện trong những năm 1970 và 1980. Những tác giả này, còn gọi là những nhà kinh tế học Trọng cung, quan tâm đến tỉ lệ tăng trưởng tụt hậu trong sức sản xuất lao động và đầu ra ở Mỹ và các nền kinh tế tiên tiến khác. Điều này tạo ra sự nghiên cứu lại các yếu tố ảnh hưởng động cơ tiết kiệm, đầu tư và thủ đắc vốn. Quan trọng nhất, yếu tố ảnh hưởng đến công nghệ và thị trường lao động thuộc tầm hiểu biết của phái Trọng cung. Chẳng hạn, một phần trong cuộc lạm phát những năm 1970 đổ lỗi cho tăng trưởng giảm trong sức sản xuất lao động (theo nghĩa tiền tệ, sự giảm tăng trưởng trong y, điều kiện khác, tạo ra sự gia tăng lạm phát nhiều hơn).

Phái Trọng cung đề xuất tăng thuế, cắt giảm chi phí và cân bằng ngân sách là một liều thuốc bổ tài chính quan trọng. Hy vọng rằng kết quả sau cùng sẽ là sự hình thành động cơ lớn hơn trong tiết kiệm và đầu tư. Sự bãi bỏ điều tiết công nghiệp, trong đó có điều tiết “tiêu chuẩn” chu kỳ kinh doanh giảm dần, và nhấn mạnh chương trình đào tạo lao động cá nhân, và trợ cấp phúc lợi xã hội giảm tạo ra sự nản chí trong lao động và tiết kiệm cũng là bộ phận của hầu hết các kê toa chính sách của phái Trọng cung.

2. Dự đoán hợp ký: Kinh tế học tân Cổ điển

Lý thuyết dự đoán hợp lý đề cập đến một tập hợp các hướng dẫn giúp hiểu được hành vi kinh tế và xã hội. Lý thuyết cho rằng một cá nhân sẽ thực hiện phân tích chi phí - lợi ích để xác định xem một lựa chọn có phù hợp với họ hay không. Nó cũng gợi ý rằng các hành động hợp lý tự định hướng của một cá nhân sẽ giúp cải thiện nền kinh tế nói chung. Lý thuyết lựa chọn hợp lý xem xét ba khái niệm: tác nhân hợp lý, tư lợi và bàn tay vô hình.

Tính hợp lý có thể được sử dụng như một giả định cho hành vi của các cá nhân trong một loạt các bối cảnh ngoài kinh tế học. Nó cũng được sử dụng trong khoa học chính trị, xã hội học, và triết học.

Quan điểm cơ bản của lý thuyết dự đoán hợp lý rất dễ hiểu và lôi cuốn: Những người tham gia thị trường không xem nhẹ hay “vứt bỏ” thông tin và dự đoán về diễn tiến tương lai của nền kinh tế và hoạt động kinh tế. Đúng ra, họ dự đoán hợp lý ảnh hưởng của các chính sách của chính phủ và phản ứng trong hiện tại phù hợp với dự đoán đã hình thành. Những người dự đoán hợp lý nghĩ rằng người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ, công cụ tài chính và người sản xuất những hàng hóa này sẽ phản ứng với chính sách tài chính, tiền tệ và các chính sách khác của chính phủ bằng (ít nhất là sau cùng) cách học hỏi ảnh hưởng của những chính sách và hành động này. Phản ứng của người tiêu dùng và sản xuất trên cơ sở dự đoán ảnh hưởng của những chính sách này sẽ trung hòa một phần hay toàn bộ ảnh hưởng dự tính của các chính sách tài chính và tiền tệ nhiệm ý của chính phủ.

Chẳng hạn, những người tham gia thị trường sẽ học hỏi qua kinh nghiệm sự gia tăng tỉ lệ lạm phát tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang nói chung sẽ có tỉ lệ lạm phát cao hơn tiếp theo sau, sau đó lãi suất danh nghĩa cao hơn. Hành động tiến hành trong hiện tại dựa trên thông tin này, một phần hay toàn bộ, cản trở mục đích chính sách dự tính của Dự trữ Liên bang. Nếu Cục Dự trữ Liên bang tăng lượng tiền cung cấp để tăng việc làm (theo Keynes nhằm giảm khủng hoảng), nhưng công nhân và doanh nghiệp hoàn toàn dự đoán kết quả tăng giá, sau đó công nhân sẽ yêu cầu tăng lương danh nghĩa. (Sự giảm tiền lương thực tế cần phải có để đạt đến sự gia tăng trong việc làm). Doanh nghiệp dự đoán tăng giá và tăng thu nhập sẽ sẵn sàng tăng lương danh nghĩa cho công nhân. Thế nhưng, trong trường hợp này, tiền lương thực tế vẫn giữ nguyên không đổi và chính sách dự tính của Cụ Dự trữ Liên bang chẳng bao lâu được trung hòa. Người ra chính sách nhiệm ý đọ sức với người tham gia thị trường. Sau cùng - sau khi việc học hỏi diễn ra, điều chỉnh dự đoán phù hợp - người ra chính sách có ít hay không có ảnh hưởng nào đối với nền kinh tế. Người ra chính sách cố gắng làm “ngạc nhiên” người tham gia thị trường, nhưng nói chung, họ không thể làm như thế được mãi. Để có bất kỳ ảnh hưởng đối với nền kinh tế, chính sách lẽ ra phải tiến hành theo cách “ngẫu nhiên”.

3. Lý thuyết dự đoán hợp lý rõ ràng là sự triển khai giả thuyết tiền tệ

Lý thuyết dự đoán hợp lý rõ ràng là sự triển khai giả thuyết tiền tệ. Đây là quan điểm phát xuất từ nền tảng phân tích vi mô cổ Điển và Tân cổ Điển về hành vi trong thị trường sản phẩm và lao động. “Quan điểm Cổ Điển cũ” của những tác giả như Adam Smith, John Stuart Mill, và trong thế kỷ này, A. c. Pigou nhấn mạnh tính hợp lý của những người tham gia thị trường, nhưng tính hợp lý dựa trên cơ sở giả định một thông tin hoàn hảo. Dĩ nhiên, không phải là lập mô hình rõ ràng về thị trường cá biệt trong kinh tế học cổ Điển. Adam Smith giải thích rõ ràng nguyên tắc kinh tế học cổ Điển này thậm chí trước khi ông viết quyển Wealth of Nations. Trong Theory of Moral Sen-timents Smith phác họa giả thuyết dự đoán hợp lý:

“Người lập kế hoạch kinh tế] có vẻ hình dung rằng anh ta có thể bố trí các thành viên khác nhau trong xã hội cũng dễ dàng như bàn tay đặt các quân cờ khác nhau trên bàn cờ, ông không cân nhắc rằng quân cờ khác nhau trên bàn cờ không có nước đi nào khác ngoài nước đi mà chính tay ông áp đặt, nhưng trong bàn cờ lớn xã hội con người, mỗi quân cờ là có một nước đi theo quy luật, cũng khác biệt với những gì mà nhà lập pháp chọn để áp đặt lên chúng”. (Theory of Moral Sentiments, trang 325).

Nhiều quan tâm phát sinh về giả thuyết dự đoán hợp lý trong khả năng của những người ra chính sách hiện đại để tác động đến các kỳ thủ trong “bàn cờ lớn của xã hội [kinh tế] con người”. Thế nhưng vẫn chưa có lời đáp dứt khoát. Phần lớn nghiên cứu đương đại dành cho vấn đề liệu chính sách nhiệm ý sẽ trung hòa hay “trung hòa chuẩn” trong điều kiện nào. Kiểm nghiệm kinh toán học tinh vi (sử dụng dữ liệu thực tế trong kiểm tra giả thuyết toán-thống kê) vẫn chưa có lời đáp cho câu hỏi tới hạn, chính sách nhiệm ý có hoạt động không? Một số chứng cứ không ủng hộ kết luận của phái dự đoán hợp lý. Cho đến khi câu trả lời dứt khoát được đưa ra từ kiểm nghiệm như thế, thì ảnh hưởng chính sách cũng như nền tảng lý thuyết của lý thuyết dự đoán hợp lý vẫn còn bị quên lãng. Quan điểm, cho dù có số phận sau cùng nào đi nữa, là đỉnh cao tranh luận đương đại trong lý thuyết Kinh tế Vĩ mô và tiền tệ.

4. Kinh tế hậu Keynes

Thuật ngữ "hậu Keynesian" lần đầu tiên được sử dụng để chỉ một trường phái tư tưởng kinh tế khác biệt của Eichner và Kregel (1975) và bởi việc thành lập Tạp chí Kinh tế học Post Keynes vào năm 1978. Trước năm 1975, và đôi khi trong nghiên cứu gần đây hơn, hậu Keynes có thể chỉ đơn giản là kinh tế học được thực hiện sau năm 1936, ngày của Lý thuyết tổng quát của Keynes.

Các nhà kinh tế học hậu Keynes thống nhất với nhau trong việc duy trì rằng lý thuyết của Keynes bị hai trường phái Keynes chính khác trình bày sai nghiêm trọng: kinh tế học tân Keynes, chính thống trong những năm 1950 và 60, và kinh tế học Keynes mới, cùng với nhiều thành phần khác nhau của kinh tế học tân cổ điển. đã chiếm ưu thế trong kinh tế vĩ mô chính thống kể từ những năm 1980. Kinh tế học hậu Keynes có thể được coi là một nỗ lực xây dựng lại lý thuyết kinh tế dưới ánh sáng của những ý tưởng và hiểu biết của Keynes. Tuy nhiên, ngay cả trong những năm đầu, những người hậu Keynes như Joan Robinson đã tìm cách tách mình khỏi Keynes, và nhiều tư tưởng hậu Keynes hiện tại không thể tìm thấy ở Keynes. Một số người thời hậu Keynes có quan điểm tiến bộ hơn chính Keynes, với sự nhấn mạnh nhiều hơn vào các chính sách thân thiện với người lao động và phân phối lại. Robinson, Paul Davidson và Hyman Minsky nhấn mạnh ảnh hưởng đến nền kinh tế của sự khác biệt thực tế giữa các loại hình đầu tư, trái ngược với cách xử lý trừu tượng hơn của Keynes.

Nền tảng lý thuyết của kinh tế học hậu Keynes là nguyên tắc về nhu cầu hiệu quả, rằng nhu cầu quan trọng trong dài hạn cũng như ngắn hạn, do đó, một nền kinh tế thị trường cạnh tranh không có xu hướng tự nhiên hoặc tự động hướng tới việc làm đầy đủ. Trái ngược với quan điểm của các nhà kinh tế học theo trường phái Keynes mới làm việc theo truyền thống tân cổ điển, những người theo trường phái hậu Keynes không chấp nhận rằng cơ sở lý thuyết về sự thất bại của thị trường trong việc cung cấp toàn dụng lao động là giá cả hoặc tiền lương cứng nhắc hoặc cố định . Những người theo chủ nghĩa hậu Keynes thường bác bỏ mô hình IS-LM của John Hicks, điều này rất có ảnh hưởng trong kinh tế học tân Keynes, bởi vì họ cho rằng việc cho vay nội sinh của ngân hàng quan trọng hơn cung tiền của các ngân hàng trung ương đối với lãi suất.

5. Đóng góp của kinh tế hậu Keynes

Đóng góp của kinh tế học hậu Keynes đã vượt ra ngoài lý thuyết về việc làm tổng hợp đến các lý thuyết về phân phối thu nhập, tăng trưởng, thương mại và phát triển, trong đó nhu cầu tiền tệ đóng một vai trò quan trọng, trong khi trong kinh tế học tân cổ điển, các lý thuyết này được xác định bởi các lực lượng của công nghệ , sở thích và tài sản. Trong lĩnh vực lý thuyết tiền tệ, các nhà kinh tế hậu Keynes là một trong những người đầu tiên nhấn mạnh rằng cung tiền đáp ứng nhu cầu tín dụng ngân hàng, do đó ngân hàng trung ương không thể kiểm soát số lượng tiền mà chỉ quản lý lãi suất bằng cách quản lý số lượng dự trữ tiền tệ.

Quan điểm này phần lớn đã được đưa vào kinh tế học chính thống và chính sách tiền tệ, hiện nhắm mục tiêu lãi suất như một công cụ, thay vì cố gắng kiểm soát chính xác số lượng tiền. Trong lĩnh vực tài chính, Hyman Minsky đã đưa ra một lý thuyết về khủng hoảng tài chính dựa trên sự mong manh về tài chính, lý thuyết này đã nhận được sự chú ý mới.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)