1. Phạm tội nhiều lần có được coi là tình tiết tăng nặng không ?

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

Câu hỏi :

Thưa Luật sư: Anh A thực hiện hành vi trộm cắp ti vi của hàng xóm. Nhưng trước đó, anh A đã thực hiện hành vi trộm cắp 5 lần trong đó có 4 lần bị truy cứu trách nhiệm hình sự và 1 lần bị xử phạt vi phạm hành chính. Từ trước tới nay anh A không có nghề nghiệp ổn định và thường xuyên ăn cắp vặt để sinh sống, đến nay đã thực hiện nhiều lần phạm tội trộm cắp để trang trải cuộc sống. Theo đó anh A có bị áp dụng tình tiết tăng nặng tội không ?

Luật sư trả lời :

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến Luật Minh Khuê, câu hỏi của bạn được đội ngũ luật sư biên tập và tra lời bạn như sau:

Do anh anh đã thực hiện hành vi trộm cắp 5 lần nên ta có thể kết luận rằng hành vi của anh A là hành vi có tính chất chuyên nghiệp và tái phạm lại nhiều lần . Căn cứ theo điểm b, h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 quy định :

Điều 52. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

1. Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

a) Phạm tội có tổ chức;

b) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;

d) Phạm tội có tính chất côn đồ;

đ) Phạm tội vì động cơ đê hèn;

e) Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;

g) Phạm tội 02 lần trở lên;

h) Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm;

i) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người đủ 70 tuổi trở lên;

k) Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác;

l) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;

m) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, tàn ác để phạm tội;

n) Dùng thủ đoạn, phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội;

o) Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội;

p) Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm.

2. Các tình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng.

Như vậy anh A sẽ bj áp dụng tình tiết tăng nặng trong trường hợp này .

2.Phân tích các tình tiết tăng nặng trong Hình sự

Thứ nhất, về hành vi phạm có yếu tố có tổ chức.

>> Xem thêm:  Quy định về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trong xử phạt hành chính ?

Việc thực hiện hành vi phạm tội có tổ chức là việc có sự hợp tác, phối hợp chặt chẽ của những người thực hiện hành vi phạm tội. Đây cũng là một hình thức biểu hiện của đồng phạm thực hiện tội phạm. Đối với hành vi vi phạm pháp luật có tổ chức được xác định là tình tiết tăng nặng bởi việc thực hiện hành vi phạm tội có nhiều người, là hình thức vi phạm có sự chuẩn bị và sự đồng thuận của nhiều người, tính chất nguy hiểm sẽ cao hơn. Theo đó, khi một tội phạm được thực hiện với hình thức đồng phạm thì sẽ có sự phân công, có sự sắp xếp chuẩn bị chi tiết. Mỗi một người đồng phạm sẽ dựa trên những kế hoạch được sắp xếp và chỉ đạo trước để đảm nhiệm trách nhiệm của mình trong quá trình thực hiện hành vi. Có những hành vi phạm tội có tổ chức thì người thực hiện hành vi phạm tội phân công cho nhau để thực hiện, có những hành vi phạm tội có tổ chức thì tất cả người phạm tội cùng thực hiện một hành vi, tất cả mọi người cùng tạo nên một sự phối hợp có kết cấu chặt chẽ để thực hiện tội phạm và che giấu hành vi của mình. Người vi phạm trong nhóm đồng phạm đó có thể là người thực hiện hành vi phạm tội, người có vai trò tổ chức hoặc có hành vi giúp sức để hành vi phạm tội được thực hiện thuận lợi hơn. Những người có hành vi phạm đã nhất trí được với nhau từ giai đoạn lên kế hoach đến khi thực hiện hành vi phạm tội về việc thực hiện được những mong muốn của họ. Dù biết đây là hành vi vi phạm pháp luật, gây nguy hiểm cho cá nhân, tổ chức, xã hội nhưng vẫn thực hiện đến cùng.

>> Xem thêm: Điều kiện được tha tù trước thời hạn có điều kiện mới nhất 2021

Thứ hai, thực hiện hành vi phạm tội có tính chất chuyên nghiệp.

Đối với tình tiết tăng nặng phạm tội có tính chất chuyên nghiệp sẽ được xác định khi đáp ứng được những điều kiện theo quy định của pháp luật đó là: thực hiện hành vi phạm tội với cùng một tội phạm với lỗi cố ý từ 5 lần trở lên bao gồm cả những lần vi phạm đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự và những lần vi phạm nhưng chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Người có hành vi thực hiện tội phạm mặc định việc thực hiện hành vi này là việc tạo thu nhập và là nghề nghiệp sinh sống chính của mình.

Thứ ba, thực hiện hành vi phạm tội với yếu tố lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội.

Với những người phạm tội thực hiện hành vi hành vi phạm tội có yếu lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam cũng là tình tiết mô tả dấu hiệu tội phạm và định tội danh. Tuy nhiên đối với một số tội phạm không được xác định là tình tiết định tội, mà cần xác định đây là tình tiết tăng nặng bởi vì có sự xuất hiện của những tình tiết này làm thay đổi mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cụ thể làm tăng thêm mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và không làm thay đổi tội danh. Đối với những người có chức vụ quyền hạn và lợi dụng quyền hạn này để thực hiện tội phạm thì bao giờ khả năng thực hiện cũng sẽ dễ dàng thực hiện và hậu quả để lại cũng sẽ nguy hiểm hơn.

Thứ tư, thực hiện hành vi phạm tội có tính chất côn đồ.

Trong các văn bản hướng dẫn Bộ luật hình sự Việt nam hiện hành chưa giải thích chi tiết về yếu tố côn đồ nhưng có thể hiểu hành vi có yếu tố côn đồ là hành vi của người thường xuyên không tuân thủ theo pháp luật, có thái độ coi thường những quy mà Nhà nước đề ra, ngoài ra người này còn có những hành vi sử dụng vũ lực và thường xuyên sử dụng vũ lực để quấy rối người khác, ức hiếp người khác, gây gổ hành hung gây thương tích cho người khác. Yếu tố này được xếp vào các tình tiết tăng nặng vì những hành vi và thái độ của những đối tượng này làm ảnh hưởng đến trật tự an ninh xã hội một cách thường xuyên, làm ảnh hưởng đến cuộc sống của người khác. Tính chất côn đồ được thể hiện ở hành vi và lời nói mang tính chất hung hãn, nguy hiểm.

Thứ năm, thực hiện hành vi phạm tội vì động cơ đê hèn.

Hiện tại theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam chưa có văn bản nào quy định giải thích về khái niệm động cơ đê hèn. Theo đó, ta có thê hiểu động cơ đe hèn là việc người thực hiện hành vi phạm tội với động cơ xuất phát từ sự ích kỷ của bản thân, những động cơ thấp hèn mặc cho hành vi này làm tổn hại đến danh sự, tư cách của chính mình. Những hành động này mang tính chất hèn nhát, bội bạc xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm của người khác

>> Xem thêm:  Hệ thống hình phạt và phân loại hình phạt trong pháp luật hình sự

Thứ sáu, Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;

>> Xem thêm: Điều kiện để được giảm án, đặc xá quy định mới nhất năm 2021 ?

Đối với tình tiết cố tình thực hiện tội phạm đến cùng được hiểu là những trường hợp mà người phạm tội cố tình thực hiện hành vi vi phạm pháp luật đến khi đạt được mục đích. Thể hiện ý chí quyết tâm thực hiện được hành vi của mình với ý định phạm tội dù đã có những trở ngại nhất định hoặc sự ngăn cản, khuyên ngăn cả người khác nhưng họ vẫn ngoan cố thực hiện hành vi của mình đến cùng. Yếu tố này xác định người phạm tội có sự quyết tâm cao, dù biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ảnh hưởng và nguy hiểm đến người khác và xã hội nhưng vẫn cố tình thực hiện đến cùng.

Thứ bảy, thực hiện hành vi phạm tội 02 lần trở lên hoặc là hành vi tái phạm, tái phạm nguy hiểm.

Đối với những hành vi phạm tội từ 2 lần trở lên, tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm là những trường hợp hành vi phạm tội được lặp lại nhiều lần. Dù biết đây là hành vi trái với quy định của pháp luật, gây nguy hiểm hoặc ảnh hưởng xấu đến xã hội hoặc người khác nhưng vẫn cố tình thực hiện từ lần này đến lần khác. Đó là những trường hợp người phạm tội vẫn ngoan cố thực hiện tội phạm dù đã từng bị xử phạt, không ăn năn hối cải mà vẫn vi phạm pháp luật.

Thứ tám. thực hiện hành vi phạm tội đối với những đối tượng đặc biệt như trẻ em, trẻ vị thành niên, phụ nữ đang mang thai, người già, những người không có khả năng tự bảo vệ bản thân mình, những người lệ thuộc vào người có hành vi phạm tội hoặc lợi dụng những hoàn cảnh đặc biệt để phạm tội.

>> Xem thêm: Đối tượng tác động của tội phạm ? Phân biệt với khách thể của tội phạm ?

Đối với những đối tượng bị thực hiện hành vi phạm tội thuộc vào nhóm đối tượng này thường là những người yếu thế cần được bảo vệ trong xã hội. Họ thường là hững người không có khả năng tự vệ nên dễ bị xâm phạm đến quyền lợi, trong đó những nhóm người như phụ nữ đang mang thai, người già, người khuyết tật là những đối tượng đặc biệt hơn bởi khả năng phòng vệ hầu như ít hơn những nhóm đối tượng khác rất nhiều nên người phạm tội dễ thực hiện hành vi phạm tội đối với những người này.

Thứ chín, người vi phạm phạm tội chuyên nghiệp, có thủ đoạn tinh vi, tàn ác gây nguy hại cho người khác để thực hiện hành vi phạm tội.

Đây là những tình tiết được xác định người phạm tội đã từng vi phạm rất nhiều lần với những mánh khóe, hành vi thâm hiểm cho người khác. Có sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi nhằm che đậy hành vi phạm tội, làm cho người khác không thể nào lường trước được hoặc đối với những đối tượng thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần và xem việc hành vi phạm tội là nghề kiếm sống chính của mình. Như vậy đối với những người thực hiện hành vi phạm tội mang tính chất chuyên nghiệp nhiều thủ đoạn sẽ làm cho người khác không có khả năng phòng bị, dễ thực hiện được hành vi phạm tội nên đây cũng được xét là những tình tiết tăng nặng trong khi truy cứu trách nhiệm hình sự.

Thứ mười, người có hành vi phạm tội có hành vi xúi giục người dưới 18 tuổi thực hiện hành vi tội phạm.

Người dưới 18 tuổi là người chưa thành niên, chưa có đủ năng lực hành vi dân sự, chưa nhận biết được mức độ nguy hiểm của từng hành vi mình gây ra. Việc xúi giục người chưa đủ nhận thức về hành vi của mình là lợi dụng người khác để thực hiện hành vi phạm tội, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tương lai của những người phạm tội sau này. Đây là nhóm đối tượng còn nhỏ tuổi, ít va chạm nên nhiều đối tượng lợi dụng những điểm yếu này để xúi giục những người này thay họ thực hiện hành vi phạm tội gây ra sự ảnh hưởng đến người khác và xã hội.

3. Hậu quả của việc áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự

>> Xem thêm: Gây tai nạn giao thông trong trường hợp nào sẽ bị phạt tù ?

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì hoạt động tố tụng hình sự có các giai đoạn: Khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử (sơ thẩm, phúc thẩm), trong mỗi giai đoạn tố tụng, các cơ quan thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo luật định và có tác động đến quá trình giải quyết vụ án hình sự (tiếp tục, tạm dừng hoặc kết thúc).

Thời điểm thể hiện các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thể hiện trong văn bản tố tụng là bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân, có nghĩa hành vi phạm tội thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành tội phạm, như:

Chủ thể phạm tội (tuổi chịu trách nhiệm); khách thể được Bộ luật Hình sự bảo vệ; mặt khách quan của cấu thành tội phạm (hành vi…); mặt chủ quan của cấu thành tội phạm (lỗi, mục đích – bắt buộc thể hiện trong cấu thành tội phạm đối với nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia…).

Với quy định hiện hành cho thấy: Khi hành vi đã thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành tội phạm thì dù có áp dụng bao nhiêu tình tiết tăng nặng thì Tòa án nhân dân không áp dụng tội danh nặng hơn hoặc hình phạt nặng hơn đối với hành vi đã cấu thành tội danh.

Pháp luật hiện hành không quy định việc áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự sẽ chịu tội danh nặng hơn hoặc định khung hình phạt nặng hơn mà hành vi phạm tội đã thực hiện.

>> Xem thêm: Tư vấn xử lý việc vô tình gây tai nạn giao thông chết người?

Trên cơ sở kế thừa các quy định của pháp luật, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã có hiệu lực pháp luật. Để áp dụng thống nhất, tác giả bài viết có ý kiến như sau:

Thứ nhất, đối với việc áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Cần có văn bản hướng dẫn để có cách hiểu và áp dụng thống nhất đối với các tình tiết như: Các điểm v khoản 1 Điều 51; điểm n khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015… theo hướng cần xác định cụ thể một dấu hiệu liệt kê là một tình tiết hay khi thỏa mãn các dấu hiệu tại điểm đó mới được xem là một tình tiết.

Thứ hai, đối với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo hướng “mở”. Bộ luật Hình sự năm 2015 đã đưa ra quy định mang tính “mở” cho việc áp dụng “có thể coi… tình tiết khác” là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015).
Để có cách hiểu và áp dụng thống nhất cần có văn bản hướng dẫn của các cơ quan chuyên môn, việc hướng dẫn có nhiều cách, như: Quy định thêm các tình tiết, hướng dẫn theo tiêu chí… Tuy nhiên, tác giả thấy rằng: Bộ luật Hình sự năm 2015 đã đưa ra quy định “mang tính mở” cho chủ thể tiến hành tố tụng áp dụng, thì việc hướng dẫn theo hướng liệt kê các tình tiết sẽ không đúng thẩm quyền (Vì, chỉ có Quốc hội mới có quyền ban hành luật).

Do vậy, để phù hợp với thẩm quyền của chủ thể hướng dẫn; phù hợp với “tính mở” của quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, thì cơ quan hướng dẫn cần đưa ra các “tiêu chí” để chủ thể áp dụng xác định biểu hiện nào là biểu hiện tích cực cho xã hội được xem là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Thứ ba, Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 hiện đã có hiệu lực, áp dụng đúng pháp luật là bắt buộc đối với các chủ thể trong xã hội. Tuy nhiên, với sự phát triển của đời sống xã hội thì việc sửa đổi, bổ sung để điều chỉnh đối với các quan hệ xã hội phát sinh (pháp luật phản ánh đời sống xã hội), thì cần cân nhắc đối với việc quy định tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sự, trên cơ sở các yếu tố như: Cặp phạm trù “nặng – nhẹ”; quy trình tố tụng; sự trùng lặp của các tình tiết trong điều luật; bản chất của trách nhiệm hình sự… để hoàn thiện quy định Bộ luật Hình sự.

4.Phân biệt các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự với các tình tiết là yếu tố định tội

>> Xem thêm: Trách nhiệm hình sự là gì ? Phân tích đặc điểm của trách nhiệm hình sự ?

Các tình tiết là yếu tố định tội là những tình tiết thuộc một trong bốn yếu tố cấu thành tội phạm, nếu không có nó thì hành vi không cấu thành tội phạm. Ví dụ: tình tiết “lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội” là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm đối với tội “tham ô tài sản”, tội “nhận hối lộ” và một số tội phạm về tham nhũng.

Các tình tiết là yếu tố định tội thì có nhiều, nhưng ở đây chúng ta chỉ nghiên cứu các tình tiết là yếu tố định tội được quy định là tình tiết tăng nặng ở Điều 48 Bộ luật hình sự hoặc tình tiết giảm nhẹ ở Điều 46 Bộ luật hình sự để áp dụng khi quyết định hình phạt, còn tình tiết là yếu tố định tội khác không phải là tình tình tiết tăng nặng hoặc tình tiết giảm nhẹ sẽ được nghiên cứu khi cần xác định tội danh đối với người phạm tội. Ví dụ: tình tiết “lén lút” là yếu tố định tội đối với tội “trộm cắp tài sản”, nhưng nó không phải là tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 46 hoặc 48 Bộ luật hình sự.

Yêu cầu của việc phân biệt trong trường hợp này không phải là phân biệt hai tình tiết với nhau, tình tiết nào là yếu tố định tội, còn tình tiết nào là tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ mà sự phân biệt ở đây là: khi một tình tiết đã được quy định tại Điều 46 hoặc 48 Bộ luật hình sự, mà tình tiết đó đã là yếu tố định tội rồi thì khi quyết định hình phạt Toà án không được coi tình tiết đó là tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ nữa. Ví dụ: Tình tiết "giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng" là yếu tố định tội được quy định tại Điều 96 Bộ luật hình sự, khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội này, Toà án không được coi tình tiết “phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” là tình tiết giảm nhẹ nữa.

5.Phân biệt các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự với các tình tiết là dấu hiệu định khung hình phạt

>> Xem thêm: Bị công an giữ bằng lái xe sau 1 năm có lấy lại được không ?

Các tình tiết là dấu hiệu định khung hình phạt là những tình tiết mà nhà làm luật dự định nếu có thì Toà án phải áp dụng ở khung hình phạt mà điều luật quy định có tình tiết đó đối với người phạm tội. Ví dụ: Một người lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới là thuộc trường hợp phạm tội quy định tại điểm c khoản 2 Điều 154 Bộ luật hình sự chứ không phải ở khoản 1 Điều 154 Bộ luật hình sự năm 1999. Tình tiết "lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong trường hợp phạm tội cụ thể này đã là dấu hiệu định khung hình phạt, nên khi quyết định hình phạt Toà án không được áp dụng tình tiết này là tình tiết tăng nặng đối với bị cáo nữa.

Các tình tiết là dấu hiệu định khung hình phạt thực chất cũng là dấu hiệu cấu thành tội phạm, nhưng nó là dấu hiệu của cấu thành khác loại (cấu thành tăng nặng hoặc cấu thành giảm nhẹ). Về cấu thành tội phạm, khoa học luật hình sự chia ra làm ba loại: cấu thành cơ bản, cấu thành tăng nặng và cấu thành giảm nhẹ.

Cấu thành cơ bản là cấu thành không có các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Ví dụ: Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự (tội trộm cắp tài sản). Loại cấu thành này, về cơ bản đã bao hàm đầy đủ những yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản (chủ thể, khách thể, mặt khách quan và mặt chủ quan), tức là một người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ 500.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 500.000 đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.

Cấu thành tăng nặng là cấu thành nếu có một hoặc một số tình tiết khác ngoài những tình tiết đã được quy định trong cấu thành cơ bản và những tình tiết này làm cho tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nguy hiểm hơn so với trường hợp bình thường không có tình tiết này, cấu thành tăng nặng bao giờ cũng có khung hình phạt nặng hơn so với cấu thành cơ bản. Ví dụ: Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự (tội trộm cắp tài sản) là cấu thành cơ bản có khung hình phạt cải tạo giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm và là tội phạm ít nghiêm trọng. Nhưng nếu người phạm tội lại có hành vi “hành hung để tẩu thoát” thì hành vi trộm cắp tài sản thuộc trường hợp quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự là cấu thành tăng nặng, có khung hình phạt tù từ hai năm đến bảy năm và là tội phạm nghiêm trọng.

Cấu thành giảm nhẹ là cấu thành nếu có một hoặc một số tình tiết khác ngoài những tình tiết đã được quy định trong cấu thành cơ bản và những tình tiết này làm cho tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội ít nguy hiểm hơn so với trường hợp bình thường không có tình tiết này, cấu thành giảm nhẹ bao giờ cũng có khung hình phạt nhẹ hơn so với cấu thành cơ bản. Ví dụ: Khoản 1 Điều 90 Bộ luật hình sự (tội chống phá trại giam) là cấu thành cơ bản có khung hình phạt từ mười năm đến hai mươi năm tù hoặc tù chung thân. Nhưng nếu người phạm tội trong trương hợp ít nghiêm trọng thì thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 90 Bộ luật hình sự là cấu thành giảm nhẹ, có khung hình phạt từ ba năm đến mười năm tù.

Tuy nhiên, không phải điều luật nào cũng bao gồm cả cấu thành tăng nặng hoặc cấu thành giảm nhẹ mà tuỳ thuộc vào mỗi tội phạm và chính sách hình sự của Nhà nước trong việc xử lý từng loại tội phạm. Đa số các tội quy định trong Bộ luật hình sự có cấu thành tăng nặng, chỉ có một số tội có cấu thành giảm nhẹ (chủ yếu các tội xâm phạm an ninh quốc gia).

Các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ đã là yếu tố định tội định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng khi quyết định hình phạt nữa. So với Bộ luật hình sự năm 1985, thì Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về nguyên tắc này rõ ràng hơn. Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ quy định: "những tình tiết là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng", nhưng lại không quy định nguyên tắc này đối với các tình tiết giảm nhẹ, cho nên thực tiễn xét xử đã hiểu và áp dụng không thống nhất, có Toà án vẫn coi là tình tiết giảm nhẹ khi tình tiết đó đã là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt ( giảm nhẹ hai lần). Tuy nhiên, Bộ luật hình sự năm 1999 đã dùng hai thuật ngữ khác nhau để quy định về cùng một vấn đề. ở khoản 3 Điều 46 nhà làm luật dùng thuật ngữ "là dấu hiệu", còn ở khoản 2 Điều 48 nhà làm luật dùng thuật ngữ "là yếu tố". Việc dùng hai thuật ngữ khác nhau này, theo chúng tôi không làm thay đổi bản chất của sự việc, trong một chừng mực nào đó thì yếu tố và dấu hiệu có thể được hiểu như nhau, nhưng khi nói tới yếu tố người ta thường hiểu đó là những yếu tố cấu thành tội phạm, có tính chất lý luận, còn khi nói đến dấu hiệu là để nói đến tình tiết cụ thể của một vụ án ý nghĩa xác định hành vi được thực hiện có cấu thành tội phạm hay không, tội gì. Quan điểm cá nhân chúng tôi thì trong trường hợp này nên dùng thuật ngữ "dấu hiệu" chính xác hơn thuật ngữ "yếu tố".

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về nội dung "Đại xá là gì? Khái niệm đại xá được hiểu như thế nào?". Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Trách nhiệm phòng ngừa và đấu tranh chống tội ?

Trả lời:

1. Cơ quan Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và các cơ quan hữu quan khác có trách nhiệm thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, đồng thời hướng dẫn, giúp đỡ các cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức, cá nhân phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, giám sát và giáo dục người phạm tội tại cộng đồng.

2. Cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ giáo dục những người thuộc quyền quản lý của mình nâng cao cảnh giác, ý thức bảo vệ và tuân theo pháp luật, tôn trọng các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa; kịp thời có biện pháp loại trừ nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm trong cơ quan, tổ chức của mình.

3. Mọi công dân có nghĩa vụ tích cực tham gia phòng, chống tội phạm.

Câu hỏi: Hiệ lực của Bộ luật hình sự đối với những hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ?

Trả lời:

Căn cứ theo điều 5 Bộ luật Hình sự 2015 quy định :

1. Bộ luật hình sự được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Quy định này cũng được áp dụng đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam hoặc tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam.

2. Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết theo quy định của điều ước quốc tế hoặc theo tập quán quốc tế đó; trường hợp điều ước quốc tế đó không quy định hoặc không có tập quán quốc tế thì trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao.

Câu hỏi: Hiệu lc của Bộ luật hình sự đối với những hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trả lời:

Căn cứ theo điều 6 bộ luật Hình sự 2015 quy định

1. Công dân Việt Nam hoặc pháp nhân thương mại Việt Nam có hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà Bộ luật này quy định là tội phạm, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo quy định của Bộ luật này.

Quy định này cũng được áp dụng đối với người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam.

2. Người nước ngoài, pháp nhân thương mại nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp hành vi phạm tội xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam hoặc xâm hại lợi ích của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

3. Đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển không mang quốc tịch Việt Nam đang ở tại biển cả hoặc tại giới hạn vùng trời nằm ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định.