1. Phân chia di sản khi người chết không để lại di chúc ?

Kính chào luật sư, Em lập gia đình từ tháng 1/2013, vợ chồng em đã có 1 bé trai được hơn 2 tuổi! Vợ chồng em từ khi lấy nhau thì thuê nhà sống ở hà nội và ko ở cùng bố mẹ bên nào cả, 2 vợ chồng cùng làm ở một Doanh nghiệp tư nhân.

Năm ngoái, vợ chồng em có mua 1 căn hộ chung cư ở bán đảo Linh đàm, dự kiến tới tháng 10 năm nay sẽ lấy nhà (em đóng tiền nhà theo đợt theo yêu cầu của bên chủ đầu tư, hiện đã đóng được 3/5 lần, còn 2/5 lần nữa thì lấy nhà). Tiền mua căn hộ đó 30% do nhà em tự đóng, 70% còn lại vay ngân hàng và 2 đợt tới sẽ do ngân hàng giải ngân. Nhưng không may, tháng 6 vừa qua chồng em đột tử và anh không để lại bất kỳ di chúc nào, cũng không nói với ai bất kỳ điều gì về tài sản! Theo bạn bè bên ngân hàng kểm tra đối chiếu tên và CMND của anh thì em được biết anh có 2 tài khoản ở ngân hàng và số tiền còn trong đó là một tài khoản thẻ 88 triệu VND, một tài khoản tiết kiệm trong vòng 01 tháng là 103 triệu VND! Số tiền đó anh có tâm sự với bạn bè và người thân là dành dụm để mua nhà và không được động tới (em nghe kể vậy). Toàn bộ thu nhập từ trước tới nay của em đều dành cho chi tiêu gia đình, và anh thì không đưa cho em lương của anh mà dành dụm để mua nhà như em có nói ở trên ạ! Lúc vợ chồng em lấy nhau tài sản anh không có gì ngoài chiếc xe máy, sau này vợ chồng em sắm đủ từ tivi, tủ lạnh, điều hoà... Nay chồng mất, em chuyển hết về nhà cho bố mẹ chồng, và ông bà cho anh em bên nhà chồng hết ạ! Nay anh mất đi rồi, em muốn được tư vấn về số tiền tài khoản của anh, cũng như căn nhà em đang mua (vì em nghĩ không có sức cáng đáng được nên muốn bán).

Em muốn được hỏi là số tiền tài khoản đó em có phải chia cho bố mẹ chồng không ạ (vì bên ngân hàng yêu cầu phải có chữ ký uỷ quyền của bố mẹ chồng em, cùng với xác nhận của địa phương), và nếu em muốn bán nhà thì em có cần hỏi ý kiến cũng như cần chữ ký, sự đồng ý, hay phải chia số tiền sau khi bán nhà cho bố mẹ chồng không ạ? Vì lúc vợ chồng lấy nhau anh không hề có gì ạ! Dù thu nhập của anh cao nhưng không có sự chắt bóp của vợ chồng thì anh cũng không có gì trong tay như ngày hôm nay ạ!

Em chân thành cám ơn ạ!

>> Luật sư tư vấn pháp luật về quyền thừa kế tài sản, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Chúng tôi xin trả lời như sau:

Thứ nhất, cần chứng minh việc chồng bạn tâm sự với bạn bè và người thân là dành dụm để mua nhà và không được động tới không được coi là hình thức di chúc miệng vì:

Đối với di chúc bằng miệng cần thỏa mãn những yêu cầu sau:

Người lập di chúc trong tình trạng tính mạng bị đe dọa do bệnh tật hoặc do nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản

Phải có hai người làm chứng về việc lập di chúc miệng, và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 5 ngày di chúc miệng phải công chứng chứng thực.

Do đó, di sản của chồng bạn để lại sẽ được phân chia theo trường hợp thừa kế theo pháp luật.

Về nguyên tắc: Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Theo quy định về điểm a, Khoản 1, Điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005 (văn bản thay thế: Bộ luật dân sự năm 2015) quy định về người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

Do đó, số tiền trong tài khoản của chồng bạn vẫn phải chia cho bố, mẹ chồng của bạn

Trường hợp bạn muốn bán nhà cần phải phải hỏi ý kiến và được sự đồng ý của bố mẹ chồng bạn vì tài sản này là tài sản chung của nhiều người cho nên việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của tất cả các đồng sở hữu. Sau khi bán nhà, số tiền thu được sẽ phải chia cho bố, mẹ chồng bạn theo nguyên tắc bình đẳng về thừa kế của cá nhân.

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn pháp luật trự tuyến: 1900.6162

>> Xem thêm:  Tư vấn soạn thảo di chúc và Dịch vụ làm chứng, chứng thực di chúc

2. Tranh chấp trong khi chia di sản không có di chúc ?

Kính chào luật sư! Xin luật sư giúp tư vấn, nhà ngoại em hiện còn 5 người con, 1 người đã mất sớm còn 1 người thì mất liên lạc hơn 15 năm ko rõ tung tích. Trong 5 người con này có 2 người đã ra nước ngoài, còn lại 3 người ở Việt Nam, mẹ e và cậu ba thì có gia đình nên đã ra ngoài ở riêng, còn cô tư vì là mẹ 1 con đơn thân nên vẩn ở chung nhà với ngoại từ nhỏ tới lúc ngoại mất luôn. Ngoại em mất hơn 1 năm không có di chúc, giấy tờ nhà và sổ đỏ vẩn còn đứng tên ngoại.
Sau khi xả tang ngoại xong, cậu ba và mẹ em có yêu cầu bán nhà để chia di sản của ngoại, cô tư là nguời ở chung với ngoại thì đòi số tiền sửa nhà từ xưa là 1 tỷ trước, sau đó phần còn lại bao nhiêu thì chia 3. Xin lưu ý vấn đề thứ nhất, hồi xưa lúc sửa nhà là lúc ngoại em còn sống khỏe nên mẹ em và cậu ba không rõ có phải tất cả là tiền sửa nhà là của cô tư hay là của ngoại. Vấn đề thứ 2 là nhà nhỏ một lầu, gác lửng mà nói bỏ ra 1 tỷ để sửa? Vấn đề thứ 3 là nếu đề cập tới chuyện sửa nhà thì xưa hơn nữa trước khi cô Tư nói bỏ tiền sửa nhà thì mẹ em có về xây nhà ngoại lên thành 1 lầu mất 6 cây vàng vào thời điểm đó, mà mẹ có bản vẽ, nhưng cô Tư gạt ngang phủ nhận chuyện đó.
Em xin hỏi luật sư cô tư đòi chia như vậy có hợp lý không? Cậu ba và mẹ là không đồng tình chuyện đó, bây giờ có nên ra pháp luật để giải quyết chanh chấp không vì cô tư ở đó nói nếu không chịu yêu cầu của cô thì cô không chịu bán hay đi đâu. Nhà là của ngoại giấy tờ vẫn còn y nguyên nếu ra chanh chấp thì ai kiện ai? Xin Luật sư giúp tư vấn khi ra pháp luật thì sẽ chia như thế nào?
Cám ơn luật sư!
Người gửi: Đ.Q

>> Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật dân sự: 1900.6162

Trả lời:

Về vấn đề chia di sản, vì ông (bà) ngoại của bạn mất mà không để lại di chúc nên tài sản sẽ được chia theo quy định của pháp luật dân sự về thừa kế theo pháp luật. Theo đó, Bộ luật dân sự năm 2005 có quy định:

"Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Vì vậy mà di sản sẽ được chia đều cho cả 5 người con còn sống của ông ngoại bạn, bao gồm cả 2 người đã ra nước ngoài. Xin lưu ý là người con của ông ngoại bạn bạn mất tích hơn 15 năm sẽ được Tòa tuyên là đã chết và không được chia di sản, căn cứ vào điều 78 và điều 81 Bộ luật dân sự 2005 về việc tuyên bố một người mất tích và chết.

Về việc cô tư yêu cầu lấy phần tiền mình đã bỏ ra để sửa nhà rồi mới phân chia di sản, dựa theo quy định của Bộ luật dân sự 2005:

"Điều 683. Thứ tự ưu tiên thanh toán

Các nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế được thanh toán theo thứ tự sau đây:

1. Chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng;

2. Tiền cấp dưỡng còn thiếu;

3. Tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ;

4. Tiền công lao động;

5. Tiền bồi thường thiệt hại;

6. Thuế và các khoản nợ khác đối với Nhà nước;

7. Tiền phạt;

8. Các khoản nợ khác đối với cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác;

9. Chi phí cho việc bảo quản di sản;

10. Các chi phí khác."

Theo đó, nếu như khoản tiền cô tư cho ông ngoại của bạn để xây nhà được coi là một khoản nợ cá nhân giữa hai người và có giấy tờ chứng minh rõ ràng thì cô được quyền yêu cầu ưu tiên thanh toán cho mình, nếu không thì khoản tiền này không nằm trong thứ tự ưu tiên thanh toán và cô không có quyền đòi. Bạn nên giải thích rõ cho cô của bạn hiểu rõ các quy định của pháp luật, các bên tự thỏa thuận hợp lý để tránh xảy ra tranh chấp. Nếu không thể tự thỏa thuận thì bạn có thể gửi đơn kiện ra Tòa án địa phương để được yêu cầu phân chia di sản đúng pháp luật.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Hướng dẫn thủ tục lập di chúc phân chia tài sản cho con cháu ? Di chúc viết tay có hợp pháp không ?

3. Di sản thừa kế theo di chúc chia thế nào khi có con riêng ?

Chào luật sư Minh Khuê. Bố tôi có lén lút với một nhân viên trong công ty và kết quả là họ có với nhau một người con trai nhưng chuyện này được bố tôi dấu kín, trước khi mất ông có bí mật để lại di chúc chia một phần gia tài cho người con riêng đó.
Sau khi ông mất người tình của bố tôi dắt theo đứa con trai về đòi chia gia sản, tài sản của nhà tôi gồm 3 miếng đất và căn nhà của bố mẹ tôi tổng số tài sản là 4 tỷ VNĐ (số tài sản này đa số do mẹ tôi làm việc vất vả ngoài chợ tích góp mà có tôi không nghĩ rằng hai mẹ con kia xứng đáng được hưởng bất cứ gì từ mồ hôi sương máu của mẹ tôi cả), khi biết tin ba tôi lừa dối mình một thời gian dài bà đã ngã bệnh nặng.
Vậy xin hỏi trong trường hợp này tôi phải làm gì và phải giải quyết ra sao có nên làm theo đúng di chúc của ba tôi để lại không ?
Xin cảm ơn .

Trả lời:

Trước hết, trong trường hợp của bạn cần phải xác định mặc dù là con riêng nhưng khi bố bạn mất đi thì người con riêng đó vẫn có quyền được hưởng chia di sản thừa kế đối với phần di sản thuộc quyền sở hữu của bố bạn. Đồng thời, tổng số tài sản 4 tỉ mặc dù như bạn cung cấp thông tin phần lớn là do mẹ bạn tạo ra nhưng toàn bộ tài sản đó được hình thành trong thời kỳ hôn nhận nên vẫn xác định là tài sản chung của hai vợ chồng (bố bạn được quyền hưởng một nửa giá trị và trong một nửa giá trị đó khi bố mất đi thì mẹ, những người con của bố bao gồm cả con riêng đều có quyền hưởng).

- Thứ hai, theo quy định của Bộ luật dân sự về quyền thừa kế của cá nhân. Cụ thể:

Điều 631. Quyền thừa kế của cá nhân

Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Điều 652. Di chúc hợp pháp

1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực.

Điều 667. Hiệu lực pháp luật của di chúc

1. Di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm mở thừa kế.

Như vậy, đối chiếu quy định trên với trường hợp của bạn thì sẽ phải xác định di chúc được lập di là thuộc khối tài sản cá nhân bố hay tài sản chung của hai vợ, chồng (bố,mẹ). Theo đó, nếu di sản mà bố bạn lập di chúc để lại là thuộc tài sản cá nhân và bản di chúc hợp pháp theo quy định pháp luật thì thời điểm bố mất - bản di chúc có hiệu lực thì bạn và những người thừa kế hợp pháp khác được quyền chỉ định hưởng sẽ phải tuân thủ thực hiện theo đúng ý chí thể hiện trong bản di chúc để lại. Tức là bạn sẽ phải mang bản di chúc đó ra văn phòng công chứng để tiến hành phân chia di sản thừa kế theo di chúc.

Tuy nhiên, trong trường hợp di chúc để lại đối với toàn bộ tài sản giá trị 4 tỉ đồng mà giá trị này thuộc quyền sở hữu của hai vợ chồng thì phải xem xét tinh hợp pháp bản di chúc vì bố bạn không có quyền định đoạt toàn bộ số di sản trên. Do đó, để đảm bảo quyền lợi thì các đồng thừa kế tự thỏa thuận với nhau để giải quyết, nếu không thỏa thuận được thì khởi kiện ra Tòa để xác định tính hợp pháp của di chúc và sau đó giải quyết vần đề chia di sản thừa kế.

Trân trọng ./.

>> Xem thêm:  Người không biết chữ muốn để lại di chúc thì phải làm thế nào ? Di chúc có phải công chứng ?

4. Thừa kế và phân chia di sản khi không có di chúc ?

Xin kính chào Luật sư. Tôi tên là T, hiện đang sinh sống và làm việc tại Hà Nội. Tôi viết thư này muốn nhờ sự tư vấn và hỗ trợ của quý Luật sư. Tôi xin trình bày ngắn gọn dưới đây. Bên họ ngoại nhà tôi hiện chỉ còn có mẹ tôi là chị cả và 1 người cậu là em trai của mẹ tôi, còn lại không còn ai khác. Sự việc là khi bà ngoại tôi (mẹ của mẹ tôi) mất không để lại trăn trối hay di chúc gì. Sau 1 thời gian đến bây giờ thì cậu tôi đòi CMT và hộ khẩu của mẹ tôi (mẹ tôi đã lấy chồng và đã chuyển hộ khẩu sang nhà tôi) và nói là để làm quyền thừa kế gì đó. Do không hiểu nên mẹ tôi đã đưa CMT và sổ hộ khẩu cho cậu. Nên tôi muốn hỏi và nhờ Luật sư tư vấn cho tôi những vấn đề gia đình tôi đang thắc mắc.
Thứ nhất, là luật về di chúc và thừa kế là như thế nào khi bà ngoại tôi mất, sẽ chuyển tài sản cho ai?
Thứ 2, là khi không có di chúc thì luật quy định thừa kế như thế nào, cần những thủ tục gì để hợp pháp quyền thừa kế?
Thứ 3, là liệu rằng bây giờ khi cậu tôi cầm CMT và hộ khẩu của mẹ tôi thì cậu có thể làm di chúc hay thừa kế theo mục đích riêng của cậu không ?
Rất cám ơn và rất mong nhận được sự trợ giúp từ quý Luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tìm lại di chúc đã mất thì di sản được phân chia như thế nào ?

Luật sư tư vấn luật dân sự về thừa kế, gọi : 1900.6162

Trả lời:

* Trước hết, do bà của bạn mất đi không để lại di chúc nên sẽ tiến hành thủ tục thừa kế theo pháp luật.

Căn cứ Khoản 1 Điều 676 Bộ luật dân sự 2005: Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Nếu ông ngoại bạn cũng đã chết và chỉ còn mẹ và cậu bạn là 2 người con duy nhất, thì toàn bộ di sản sẽ được chia đều cho mẹ và cậu bạn (hàng thừa kế thứ nhất).

* Thủ tục để hưởng thừa kế như sau: Trước tiên mẹ bạn và cậu bạn thực hiện việc kê khai di sản:

- Cơ quan tiến hành: Bất kỳ tổ chức công chứng nào trên địa bàn tỉnh, thành phố nơi có tài sản.

- Bộ hồ sơ yêu cầu công chứng gồm:

+ Các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản của bà (ví dụ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất);

+ Giấy chứng tử của bà bạn;

+ Giấy tờ tùy thân của 2 người thừa kế;

+ Những giấy tờ khác (giấy chứng tử của cụ (người sinh ra bà ngoại), giấy chứng tử của ông ngoại).

- Thủ tục:

Sau khi kiểm tra hồ sơ thấy đầy đủ, phù hợp quy định của pháp luật, cơ quan công chứng tiến hành niêm yết công khai tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú trước đây của người để lại di sản; trong trường hợp không có nơi thường trú, thì niêm yết tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi tạm trú có thời hạn của người đó. Nếu không xác định được cả hai nơi này, thì niêm yết tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi có bất động sản của người để lại di sản.

Sau 15 ngày niêm yết, không có khiếu nại, tố cáo gì thì cơ quan công chứng chứng nhận văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế theo quy định tại Điều 57 Luật công chứng 2014:

Điều 57. Công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản

1. Những người thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc mà trong di chúc không xác định rõ phần di sản được hưởng của từng người thì có quyền yêu cầu công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản.
Trong văn bản thỏa thuận phân chia di sản, người được hưởng di sản có thể tặng cho toàn bộ hoặc một phần di sản mà mình được hưởng cho người thừa kế khác.
2. Trường hợp di sản là quyền sử dụng đất hoặc tài sản pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong hồ sơ yêu cầu công chứng phải có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản của người để lại di sản đó.
Trường hợp thừa kế theo pháp luật, thì trong hồ sơ yêu cầu công chứng phải có giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người để lại di sản và người được hưởng di sản theo quy định của pháp luật về thừa kế. Trường hợp thừa kế theo di chúc, trong hồ sơ yêu cầu công chứng phải có bản sao di chúc.
3. Công chứng viên phải kiểm tra để xác định người để lại di sản đúng là người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản và những người yêu cầu công chứng đúng là người được hưởng di sản; nếu thấy chưa rõ hoặc có căn cứ cho rằng việc để lại di sản và hưởng di sản là không đúng pháp luật thì từ chối yêu cầu công chứng hoặc theo đề nghị của người yêu cầu công chứng, công chứng viên tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định.
Tổ chức hành nghề công chứng có trách nhiệm niêm yết việc thụ lý công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản trước khi thực hiện việc công chứng.
4. Văn bản thỏa thuận phân chia di sản đã được công chứng là một trong các căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký việc chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản cho người được hưởng di sản.
* Việc cậu bạn cầm CMT và sổ hộ khẩu của mẹ bạn có thể nhằm thực hiện các thủ tục như trên. Vì với những giấy tờ đó thì không thể làm di chúc được. Di chúc hợp pháp phải đáp ứng các điều kiện sau:

1. Điều kiện:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thủ tục nhận thừa kế quyền sử dụng đất như thế nào ? Thời hiệu khởi kiện thừa kế là bao lâu ?

5. Tìm lại di chúc đã mất thì di sản được phân chia như thế nào ?

Chào Luật sư. Tôi tên là H, ở TQ. Năm 2009, ông nội tôi có để lại di chúc ( có chứng thực ở xã ) thể hiện để tất cả tài sản cho bố tôi. Năm 2015 ông nội tôi mất, nhưng do không tìm thấy di chúc nên UBND xã đã yêu cầu di sản của ông tôi chia theo pháp luật.
Vừa rồi khi xếp lại những đồ vật trong tủ bố tôi đã phát hiện ra di chúc, không biết trường hợp này bố tôi có quyền yêu cầu chia lại di sản theo di chúc hay không ?
Tôi cảm ơn.

Luật sư trả lời:

Điều 624 Bộ luật dân sự 2015 quy định :

"Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết."

Đồng thời tại Điều 642 Bộ luật dân sự 2015 có quy định như sau:

Điều 642. Di chúc bị thất lạc, hư hại

1. Kể từ thời điểm mở thừa kế, nếu bản di chúc bị thất lạc hoặc bị hư hại đến mức không thể hiện được đầy đủ ý chí của người lập di chúc và cũng không có bằng chứng nào chứng minh được ý nguyện đích thực của người lập di chúc thì coi như không có di chúc và áp dụng các quy định về thừa kế theo pháp luật.

2. Trường hợp di sản chưa chia mà tìm thấy di chúc thì di sản được chia theo di chúc.

3. Trong thời hiệu yêu cầu chia di sản, trường hợp di sản đã chia mà tìm thấy di chúc thì phải chia lại theo di chúc nếu người thừa kế theo di chúc yêu cầu.

Như vậy, nếu vẫn còn thời hiệu chia di sản mà tìm thấy di chúc thì sẽ thực hiện chia lại theo di chúc nếu bố bạn có yêu cầu. Thời hiệu yêu cầu chia di sản được quy định tại Điều 623 Bộ luật dân sự 2015:

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Đối chiếu quy định trên thì thời hiệu yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế (Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết). Do đó, với trường hợp của bạn thì bố bạn vẫn có quyền yêu cầu chia lại theo di chúc.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp dân sự về sửa đổi di chúc trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thừa kế - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quyền thừa kế quyền sử dụng đất là gì ? Bản họp gia đình phân chia tài sản thừa kế có ý nghĩa gì ?