1. Quy định chung về phân chia tài sản doanh nghiệp khi phá sản

Luật phá sản năm 2004 quy định thứ tự ưu tiên thanh toán:

1) Phí phá sản;

2) Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã kí kết;

3) Các khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho các chủ nợ trong danh sách chủ nợ theo nguyên tắc nếu giá trị tài sản đủ để thanh toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ đều được thanh toán đủ số nợ của mình; nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ chỉ được thanh toán một phần khoản nợ của mình theo tỉ lệ tương ứng.

Trường hợp giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi đã thanh toán đủ các khoản quy định như trên mà vẫn còn thì phần còn lại này thuộc về:

1) Xã viên hợp tác xã;

2) Chủ doanh nghiệp tư nhân;

3) Các thành viên của công ty;

4) Các cổ đông của công ty cổ phần;

5) Chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước.

 

2. Phả sản là thủ tục phục hồi doanh nghiệp hoặc thanh lý nợ đặc biệt

Luật Phá sản năm 2014 gồm có 133 điều, trong đó có 25 điều (Điều 1 đến Điều 25) về những quy định chung và 3 điều về điều khoản thi hành, còn lại 115 điều (từ Điều 26 đến Điều 130) ghi nhận các vấn đề liên quan đến thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán nợ. Như vậy, Luật Phá sản là luật về thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán nợ, trong đó có 2 thủ tục quan trọng, đó là thủ tục phục hồi hoặc thanh lý nợ của doanh nghiệp. Tuy nhiên, theo tinh thần của Luật Phá sản, các thủ tục phục hồi hoặc thanh lý nợ ở đây khác với quá trình phục hồi khi doanh nghiệp tự phục hồi sắp xếp lại hoạt động sản xuất kinh doanh của mình hoặc thủ tục thanh toán nợ trong tố tụng dân sự.

- Tính chất đặc thù của thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phả sản

Tính chất đặc thù của thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản được nhìn nhận trong mối quan hệ so sánh với quá trình tự phục hồi doanh nghiệp khi doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc thua lỗ trong kinh doanh nhưng chưa bị yêu cầu mở thủ tục phá sản. So sánh với quá trình tự phục hồi đó, thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản có sự khác biệt cơ bản. Đó là: quá trình tự phục hồi là giải pháp tổ chức sản xuất kinh doanh được doanh nghiệp chủ động thực hiện còn phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản lại là thủ tục tư pháp.

Trong kinh doanh, vì những nguyên nhân khác nhau, doanh nghiệp có thể gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ. Khi đó, để lành mạnh hoá hoạt động của doanh nghiệp, khỏi phải lâm vào tình trạng phá sản, chủ doanh nghiệp có thể thực hiện việc tổ chức lại hoạt động sản xuất kinh doanh hay nói cách khác lả tự phục hồi doanh nghiệp của mình. Quá trình phục hồi này hoàn toàn thuộc ý chí của chủ doanh nghiệp, họ tự quyết định có hay không việc phục hồi doanh nghiệp, tự quyết định các phương án phục hồi doanh nghiệp cũng như tự thực hiện phương án phục hồi ...

Khác với quá trình tự phục hồi, phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là thủ tục tư pháp. Đây là một giai đoạn trong thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp, được tiến hành sau khi Toà án mở thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp và chính Toà án là người quyết định thủ tục phục hồi này (xem chương VII Luật Phá sản năm 2014). Mặc dù công việc chính trong quá trình phục hồi do doanh nghiệp thực hiện nhưng việc phục hồi chỉ có thể được thực hiện khi có đủ điều kiện pháp luật quy định (xem Điều 92 Luật Phá sản năm 2014), nội dung, thủ tục xem xét thông qua và thời hạn thực hiện phương án phục hồi phải tuân thủ quy định của pháp luật (xem các điều 88, 89, 90, 91). Hơn nữa, hoạt động phục hồi doanh nghiệp nằm dưới sự giám sát nghiêm ngặt của Toà án cũng như các chủ nợ và doanh nghiệp phải chịu những hậu quả pháp lý trong trường hợp doanh nghiệp phục hồi không thành công.

- Tính đặc thù của thủ tục thanh toán nợ

Không như những vụ kiện đòi tài sản trong lĩnh vực dân sự hay kinh tế, phá sản là một hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp, kéo theo nhiều hậu quả xấu, ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của các chủ nợ, bản thân doanh nghiệp mắc nợ và người làm công cũng như lọi ích của xã hội nói chung. Đe bảo vệ họ và những người có liên quan, xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên khi doanh nghiệp phá sản, bảo vệ trật tự kỉ cương xã hội thì việc giải quyết phá sản phải được thực hiện theo một thủ tục đặc biệt khác với thủ tục đòi nợ và thanh toán nợ thông thường. Sự đặc biệt này được xác định bởi tính chất của quan hệ giữa chủ nợ với doanh nghiệp mắc nợ. Điều đó thể hiện ở những nội dung sau:

Thứ nhất, việc đòi nợ và thanh toán nợ mang tính tập thể.

Tính tập thể của thủ tục phá sản thể hiện trước hết ở việc tất cả các chủ nợ đều có cơ hội tham gia vào quá trình đòi nợ và thanh toán nợ. Nhưng họ không thể tiến hành đòi doanh nghiệp mắc nợ phải thanh toán các khoản nợ cho mình một cách tuỳ tiện. Pháp luật phá sản đã thiết kế sẵn một thủ tục tư pháp đặc biệt đảm bảo sự đồng đều về quyền lợi cho các chủ nợ thay vì để họ hành động vô tổ chức, mạnh ai nấy làm dẫn tới sự đổ vỡ của hàng loạt các doanh nghiệp khác có liên quan, gây xáo trộn mọi hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội. Các chủ nợ được phân chia thành các nhóm khác nhau và yêu cầu của họ sẽ được xem xét công bằng, tại cùng một địa điểm, thời điểm và theo một thứ tự ưu tiên nhất định.

Khi có đơn yêu cầu phá sản doanh nghiệp của các chủ nợ không có bảo đảm, các chủ nợ có bảo đảm một phần và đại diện người lao động hoặc đại diện công đoàn, Toà án có thẩm quyền xem xét nếu đủ căn cứ thì ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Từ thời điểm này doanh nghiệp ngừng thanh toán nợ, không được thanh toán nợ cho riêng bất kì một chủ nợ nào. Các chủ nợ cũng không thể đòi thanh toán riêng khoản nợ của mình mà phải thông qua thủ tục gửi giấy đòi nợ. Luật Phá sản quy định: Tất cả các chủ nợ (chủ nợ không cỏ bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần, chủ nợ có bảo đảm) phải gửi giấy đòi nợ đến Toà án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày cuối cùng đăng báo về quyết định mở thủ tục phá sản doanh nghiệp (Điều 66); trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày hết hạn gửi giấy đòi nợ, Tổ quản lý, thanh lý tài sản phải lập xong danh sách các chủ nợ và số nợ (Điều 67). Toà án sẽ dựa vào danh sách này để tiến hành thanh toán cho các chủ nợ khi xử lý nợ của doanh nghiệp con nợ. Điều đó cho thấy việc xử lý nợ phải dựa trên cơ sở tập thể các chủ nợ.

Gửi giấy đòi nợ là một thủ tục đặc biệt mà bất cứ chủ nợ nào cũng phải tiến hành, kể cả chủ nợ đang có tranh chấp với doanh nghiệp về số nợ của mình. Chủ nợ không gửi giấy đòi nợ hoặc tiến hành đòi nợ riêng lẻ sẽ không được tham gia vào quá trình phân chia tài sản của doanh nghiệp sau này.

Việc thanh toán nợ cho các chủ nợ trong quá trình giải quyết phá sản là thanh toán chung chứ không phải cho từng cá nhân riêng biệt. Điều đó nhằm giải quyết quyền lợi của các chủ nợ trên nguyên tắc công bằng và hợp lý.

Thứ hai, việc đòi nợ và thanh toán các khoản nợ tiến hành thông qua một cơ quan đại diện có thẩm quyền.

Trước đây, theo Điều 30 Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 1993 thì: Toà kinh tế Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết việc phá sản doanh nghiệp.

Luật Phá sản đã quy định cụ thể hơn cơ quan Toà án có thẳm quyền giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp (xem Điều 8).

Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam, cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp là Toà án nhân dân địa phương nơi doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký kinh doanh hoặc có trụ sở.

Giải quyết phá sản thực chất là giải quyết mối quan hệ tài sản giữa chủ nợ và con nợ. Chủ nợ có quyền đòi nợ và việc đòi nợ phải thông qua Toà án thể hiện ở thủ tục gửi giấy đòi nợ trong một thời hạn nhất định. Thực hiện thủ tục này họ sẽ có tên trong danh sách chủ nợ và quyền lợi được đảm bảo. Việc thanh toán nợ của doanh nghiệp cũng không diễn ra trực tiếp mà phải thông qua đại diện là Quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý, thanh lý tàỉ sản. Các chủ nợ nhận được một phần hay toàn bộ số nợ của mình từ đây chứ không trực tiếp từ doanh nghiệp mắc nợ. Điều này thể hiện tính đặc biệt của thủ tục phá sản, khác với việc thanh toán nợ thông thường là luôn luôn trực tiếp và vào bất kì lúc nào.

Thứ ba, thanh toán các khoản nợ được tiến hành trên cơ sở số tài sản còn lại của doanh nghiệp.

Việc thanh toán các khoản nợ được tiến hành trên cơ sở tài sản còn lại của doanh nghiệp. Điều này không có nghĩa là nợ bao nhiêu thì trả bấy nhiêu như nợ trong dân sự mà nghĩa vụ của doanh nghiệp mắc nợ sẽ chấm dứt sau khi dùng toàn bộ tài sản của mình để trả nợ mặc dù có thể thanh toán chưa đủ cho các chủ nợ. Ví dụ, Công ty TNHH A bị Toà án tuyên bố phá sản, có khoản nợ cần thanh toán là 10 tỉ đồng (VNĐ). Khi tiến hành thanh lý toàn bộ số tài sản còn lại của doanh nghiệp chỉ thu được 6 tỉ VNĐ, cơ quan thanh lý tài sản sẽ dùng 6 tỉ VNĐ này để thanh toán cho các chủ nợ (có khoản nợ 10 tỉ VNĐ) và hết khoản 6 tỉ VNĐ này thì khoản nợ 10 tỉ VNĐ coi như được thanh toán xong. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, sau khi doanh nghiệp phá sản, đối với chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh trong công ty hợp danh, trách nhiệm thanh toán nợ vẫn tồn tại cho đến khi khoản nợ đó được thực hiện xong.

Thứ tư, việc thanh toán các khoản nợ được tiến hành theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Trong quá trình giải quyết phá sản doanh nghiệp, việc thanh toán các khoản nợ được tiến hành sau khi có quyết định của Toà án. Đây cũng là một đặc thù so với thủ tục thanh toán nợ thông thường. Thủ tục thanh toán nợ thông thường có thể diễn ra bất cứ khi nào, theo phương thức do hai bên lựa chọn, kể cả khi cần sự can thiệp của Toà án thì Toà án vẫn tôn trọng ý kiến của đương sự.

Toà án là cơ quan có thẩm quyền ra quyết định việc phục hồi, xử lý tài sản hoặc tuyên bố phá sản doanh nghiệp nhưng Toà án không trực tiếp thanh toán nợ của doanh nghiệp mà việc thanh toán nợ do Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thực hiện (xem các điều 120, 121 Luật Phá sản năm 2014). Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, thanh toán nợ trong quá trình giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp phải trên cơ sở quyết định của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý tài sản hay của Toà án, tuỳ thuộc từng trường hợp và thời điểm cụ thể.

Quy định việc thanh toán các khoản nợ trong quá trình giải quyết phá sản tạo điều kiện cho doanh nghiệp khôi phục hoạt động kinh doanh hoặc nhằm đảm bảo sự công bằng và hợp lý khi xử lý tài sản.

Tóm lại, thủ tục phục hồi và xử lý nợ theo Luật Phá sản quy định là một thủ tục đặc biệt, khác với thủ tục thanh toán nợ thông thường trong dân sự, kinh tế và trong đời sống hàng ngày.

3. Thủ tục phá sản Doanh nghiệp

Thủ tục phá sản doanh nghiệp quy định trong Luật Phá sản 2014 diễn ra gồm các bước như sau:

Bước 1: Nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Chỉ những người có quyền và nghĩa vụ liên quan mới có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.

Bước 2: Tòa án nhận đơn

Sau khi nhận được đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Tòa án xem xét đơn, nếu đơn hợp lệ sẽ thông báo việc nộp lệ phí và tạm ứng phí phá sản.

Nếu đơn chưa hợp lệ thì yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn.

Nếu người nộp đơn không có quyền nộp đơn, hoặc từ chối sửa đơn… thì Tòa án trả lại đơn.

 

Bước 3: Tòa án thụ lý đơn

Tòa án nhân dân thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi nhận được biên lai nộp lệ phí phá sản, biên lai nộp tạm ứng chi phí phá sản.

Sau đó, Tòa án ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản (trừ trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản theo thủ tục rút gọn).

Bước 4: Mở thủ tục phá sản

Quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản Tòa án phải gửi thông báo đến những người liên quan.

Trong quá trình giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản, có thể yêu cầu Tòa án nhân dân có thẩm quyền thực hiện các biện pháp bảo toàn tài sản như tuyên bố giao dịch vô hiệu; tạm đình chỉ thực hiện hợp đồng...

Đặc biệt sẽ kiểm kê lại tài sản, lập danh sách chủ nợ; lập danh sách người mắc nợ…

Bước 5: Hội nghị chủ nợ

Triệu tập Hội nghị chủ nợ:

+ Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất.

Hội nghị chủ nợ được coi là tiến hành hợp lệ nếu có số chủ nợ tham gia đại diện cho ít nhất 51% tổng số nợ không có bảo đảm. Nếu không đáp ứng sẽ bị hoãn và phải mở hội nghị lần 02.

+ Hội nghị chủ nợ lần thứ hai.

Hội nghị chủ nợ có quyền đưa ra một trong các kết luận sau:

- Đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản;

- Đề nghị áp dụng biện pháp phục hồi hoạt động kinh doanh;

- Đề nghị tuyên bố phá sản.

Bước 6: Ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản

Trường hợp doanh nghiệp không thực hiện được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh hoặc hết thời hạn thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh nhưng vẫn mất khả năng thanh toán, Thẩm phán ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản.

Bước 7: Thi hành tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản

- Thanh lý tài sản phá sản;

- Phân chia tiền thu được từ việc bán tài sản của doanh nghiệp cho các đối tượng theo thứ tự phân chia tài sản.

4. Thứ tự ưu tiên thanh toán khi doanh nghiệp bị phá sản

Thứ tự phân chia tài sản khi Thẩm phán ra quyết định tuyên bố phá sản như sau:

- Chi phí phá sản;

- Khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động, quyền lợi khác theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể đã ký kết;

- Khoản nợ phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản nhằm mục đích phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp;

- Nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh sách chủ nợ; khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ;

- Chủ doanh nghiệp tư nhân;

Trường hợp giá trị tài sản không đủ để thanh toán các chi phí theo quy định thì từng đối tượng cùng một thứ tự ưu tiên được thanh toán theo tỷ lệ phần trăm tương ứng với số nợ.

5. Lệ phí phá sản được quy định như thế nào?

Lệ phí nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo quy định hiện hành là 1,5 triệu đồng (Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14).

Những trường hợp sau sẽ không phải nộp tiền tạm ứng lệ phí Tòa án, không phải chịu lệ phí Tòa án:

- Người lao động, công đoàn có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn thanh toán.

- Người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản mà doanh nghiệp mất khả năng thanh toán không còn tiền, tài sản khác để nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)