1. Sự cần thiết khi phân loại tội phạm

Tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự của Nhà nước ta rất đa dạng, phức tạp, xâm phạm đến các lĩnh vực khác nhau. Phân loại tội phạm là sự cần thiết, vì:

  • Để sắp xếp, hệ thống hóa các tội phạm trong Bộ luật Hình sự theo từng chương, bảo đảm tính khoa học, thuận lợi cho công tác nghiên cứu và áp dụng.
  •  Để xác định tội phạm theo tính chất và mức độ nguy hiểm, từ đó quy định hình phạt và áp dụng hình phạt.
  •  Để áp dụng biện pháp ngăn chặn do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định cho phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm.
  •  Để xác định thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam, thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn xóa án tích cho phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của các tội phạm cụ thể..v..v..

 

2. Khái niệm tội phạm là gì?

Theoq quy định của pháp luật hình sự hiện hành (Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017) định nghĩa về tội phạm cụ thể tại Khoản 1 Điều 8, như sau:

"Điều 8. Khái niệm tội phạm

1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự".

Như vậy ta có thể nhận thấy một số các hành vi có dấu hiệu tội phạm nhưng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.

>> Xem thêm: Cách phân loại tội phạm theo quy định của pháp luật hình sự?

 

3. Căn cứ để phân loại tội phạm

Theo quy định của pháp luật hình sự hiện hành thì có nhiều căn cứ để phân loại tội phạm, như sau:

 

3.1 Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và mức hình phạt đối với tội phạm đó

Điều 9 Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017 căn cứ theo tính chất, mức độ nguy hiểm cũng như mức hình phạt của tội phạm để phân tội phạm thành 4 loại như sau:

- Tội phạm ít nghiêm trọng: Là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật hình sự năm 2015 quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;

Quy định vè tội phạm ít nhiêm trọng trong Bộ luật hình sự năm 2015 đã mở rộng so với Bộ luật hình sự cũ năm 1999. Bộ luật hình sự cũ chỉ căn cứ vào mức hình phạt tù có thời hạn không quá 3 năm nên không bao quát hết các khung ( khung cơ bản ) không có hình phạt tù. Do đó quy định theo hướng ngoài mức phạt tù có thời hạn là 3 năm còn có phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ là phù hợp.

- Tội phạm nghiêm trọng: Là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật hình sự quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù;

- Tội phạm rất nghiêm trọng: Là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù;

- Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng: Là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

Có thể thấy một trong các điểm khác biệt lớn nhất ở Bộ luật hình sự năm 2015 so với Bộ luật hình sự cũ năm 1999 là đã tách quy định về phân loại tội phạm ra thành một điều luật riêng, không còn chung với điều luật quy định về khái niệm tội phạm. Việc này đã góp phần đảm bảo tính minh bạch khi các chủ thể áp dụng Bộ luật để nghiên cứu và thực thi. 

 

3.2 Căn cứ vào hình thức lỗi của tội phạm

Căn cứ vào hình thức lỗi của tội phạm, tội phạm được chia thành hai loại:

- Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý (cố ý phạm tội): Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về cố ý phạm tội tại Điều 10, cụ thể như sau:

Cố ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

  • Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra;
  • Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.

- Tội phạm được thực hiện do vô ý (vô ý phạm tội): Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về vô ý phạm tội tại Điều 11, cụ thể như sau:

Vô ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

  • Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.
  • Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.

Dù không được quy định trong luật, tuy nhiên trong thực tiễn xét xử các vụ án hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng và các chủ thể tham gia có thể dựa theo một số các căn cứ sau để phân loại tội phạm, ví dụ như:

- Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi phạm tội, tội phạm có thể phân thành các loại:

  • Tội phạm không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ;
  • Tội phạm có tình tiết tăng;
  • Tội phạm có tình tiết giảm nhẹ

Các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được Bộ luật hình sự năm 2015 quy định tại Điều 51 và 52 Bộ luật này. 

- Căn cứ vào các yếu tố cấu thành tội phạm, tội phạm được phân thành hai loại sau:

  • Tội phạm có cấu thành vật chất
  • Tội phạm có cấu thành hình thức
  • Tội phạm có cấu thành hỗn hợp
  • Tội phạm có cấu thành cắt xén.

 

4. Ý nghĩa của việc phân loại tội phạm

4.1 Ý nghĩa về mặt lý luận

- Phân loại tội phạm là cơ sở để xác định và xây dựng các biện pháp pháp lý hình sự tương ứng với tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, xác định chính sách hình sự cụ thể đối với từng hành vi phạm tội cụ thể ( chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội -  chương X Bộ luật hình sự, chính sách xử lý hành vi chuẩn bị phạm tội…vv…)

- Mặt khác, phân loại tội phạm cũng có vai trò quan trọng trong việc triển khai chính sách hình sự thông qua nhận thức và phản ứng của Nhà nước đối với các tội có tính nguy hiểm cho xã hội khác nhau thì có biện pháp xử lý khác nhau. Nó chi phối hầu hết các quy định của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự về tội phạm, hình phạt, thẩm quyền điều tra, xét xử…vv…

- Trong hoạt động lập pháp, phân loại tội phạm là cơ sở để xây dựng các chế định về tội phạm và hình phạt, là cơ sở thống nhất để xây dựng các khung hình phạt cho tội phạm cụ thể.

- Ngoài ra, phân loại tội phạm còn là cơ sở để xác định đường lối đấu tranh với các tội phạm khác nhau cũng như các ngành  tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, mà yêu cầu phân hóa trách nhiệm hình sự được đặt ra và trở thành nguyên tắc của Luật hình sự.

- Phân loại tội phạm thành các nhóm khác nhau là biểu hiện của sự phân hóa trách nhiệm hình sự ở góc độ lập pháp. Bên cạnh đó, nghiên cứu chế định phân loại tội phạm trong mối quan hệ thống nhất các chế định khác sẽ tạo tiền đề cho việc nhận thực đúng bản chất của tội phạm, đánh giá đúng tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, là cơ sở để hoàn thiện pháp luật hình sự.

 

4.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn

- Phân loại tội phạm có ý nghĩa trước hết đối với việc áp dụng nhiều quy phạm phần chung và phần các tội phạm Bộ luật hình sự, như: chế định tuổi chịu trách nhiệm hình sự, chế định các giai đoạn phạm tội, chế định thời hiệu truy cứu trách nhiệm  hình sự… Chẳng hạn, theo quy định của pháp luật hiện hành, những người chuẩn bị phạm  tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự nếu tội họ chuẩn bị phạm là tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng, người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng; ...

- Ngoài ra, việc phân loại tội phạm còn có ý nghĩa chi phối đối với việc áp dụng một số chế định của luật tố tụng hình sự. Việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp chỉ được thực hiện khi có căn cứ cho rằng người đó đang chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng; các quy định về thời hạn đưa vụ án ra xét xử hoặc ra các quyết định cụ thể đối với từng loại tội phạm cụ thể...v.v...

- Kết luận, phân loại tội phạm là đòi hỏi cần thiết cho việc phân hóa trách nhiệm hình sự trong luật cũng như áp dụng luật, chính vì thế vấn đề này được đặt ra trong các bộ luật. Việc phân loại tội phạm chẳng những hỗ trợ cho việc áp dụng đúng luật mà nếu nhìn rộng ra, nhà làm luật còn có thể dựa vào tính nguy hiểm cho quan hệ xã hội mà nó xâm hại để đánh giá, nhằm bảo vệ cho chế độ chính trị hiệu quả hơn.

Như vậy ta có thể nhận thấy phân loại tội phạm là đòi hỏi cần thiết cho việc phân hóa trách nhiệm hình sự trong luật cũng như áp dụng luật, chính vì thế vấn đề này được đặt ra trong các bộ luật. Việc phân loại tội phạm chẳng những hỗ trợ cho việc áp dụng đúng luật mà nếu nhìn rộng ra, nhà làm luật còn có thể dựa vào tính nguy hiểm cho quan hệ xã hội mà nó xâm hại để đánh giá, nhằm bảo vệ cho chế độ chính trị hiệu quả hơn.

Mọi vướng mắc vui lòng liên hệ trực tiếp với:  CÔNG TY LUẬT TNHH MINH KHUÊ thông qua điện thoại yêu cầu dịch vụ luật sư tư vấn luật trực tuyến, gọi: 1900.6162 hoặc  Gửi thư tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ qua Email:  Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email. Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!