1. Hướng dẫn phân tích khổ cuối bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ
1.1. Mở bài
- Nêu sơ lược về Hàn Mặc Tử và sự nghiệp sáng tác của ông.
- Nêu nội dung chính của toàn bộ bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ, sau đó dẫn dắt đi vào khổ cuối của tác phẩm.
1.2. Thân bài
- Nội dung:
+ 2 câu đầu thể hiện sự tha thiết hướng về con người ở Vĩ Dạ trong sự hư ảo giữa thực và mơ.
+ Thể hiện tâm trạng hoài nghi, suy tư về cuộc đời và tình người: sự chìm đắm của người thi sĩ trong không gian của tâm tưởng và thực tại cùng sự hoài nghi về tình người ở thôn Vĩ sau nhiều năm xa cách, đợi chờ.
- Nghệ thuật: sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật như điệp từ, điệp ngữ, câu hỏi tu từ, đại từ phiếm chỉ, câu hỏi tu từ, đồng thời sử dụng từ Hán Việt (nhân ảnh) như để miêu tả dự cảm về chính cuộc đời của tác giả.
+ Ngoài ra, tác giả còn sử dụng nhịp thơ 4/3, tạo ra sự khác biệt với luật thơ của những câu thơ thất ngôn.
+ Nghệ thuật cực tả (sắc trắng) tạo nên vẻ đẹp thanh khiết của nhân vật "em" nhưng cũng làm bật lên sự bất lực về thị giác, tâm hồn của một trái tim khi phải xa rời cuộc sống thực.
1.3. Kết bài
- Tóm lược lại ý chính của giá trị nội dung, nghệ thuật của khổ thơ cuối:
+ Giá trị nội dung: nỗi lòng hướng về xứ Huế sau bao nhiêu năm xa cách trong sự mờ nhòa giữa hiện thực và mộng ảo của nhân vật trữ tình.
+ Giá trị nghệ thuật: sử dụng những biện pháp tu từ hiệu quả làm toát lên được những cung bậc, tâm trạng của nhân vật trữ tình.
2. Bài mẫu phân tích khổ cuối bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ
2.1. Phân tích khổ thơ cuối bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ - Mẫu số 1
Hàn Mặc Tử là một nhà thơ có cuộc đời gặp nhiều trắc trở và bi kịch. Ông đã trải qua một thời gian dài sống với bệnh tật và qua đời khi chưa đầy ba mươi tuổi. Tuy nhiên, ông lại là một hồn thơ tràn đầy cảm hứng sáng tạo. Vì vậy, dù sự nghiệp nghệ thuật của ông không dài nhưng ông vẫn để lại cho đời nhiều tác phẩm có giá trị mặc cho bệnh tật dày vò trong một thời gian dài. Trong đó có “Đây thôn Vĩ Dạ” là một trong những bài thơ tiêu biểu của ông.
Khổ thơ cuối của bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ là khổ thơ vừa thể hiện tâm trạng của ông và cũng vừa thể hiện sự ngờ vực với cuộc đời. Nhưng trên hết, đó là tình yêu thiên nhiên trữ tình, khát khao được hòa mình với thiên nhiên, khát vọng sống. Trong khi ở khổ thơ thứ hai, giọng điệu của nhà thơ có sự khắc khoải chờ mong thì ở khổ thơ cuối nhà thơ lại chuyển sang giọng điệu khẩn thiết, van xin để bày tỏ niềm mong mỏi của mình:
"Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?"
Với nhịp thơ 4/3 và điệp từ “khách đường xa” càng nhấn mạnh niềm háo hức và khao khát mãnh liệt của tác giả. Người lạ đường xa này có lẽ là cô gái Huế mà ông luôn mong mỏi được gặp lại. Nhưng có lẽ nhà thơ nhận thấy điều ước này sẽ không thành hiện thực nên đã dùng từ “mộng” để diễn tả tâm trạng của mình. Trong câu thơ tiếp theo thì vị khách ấy trở nên thực tế hơn, đó là một bóng người với sắc áo trắng tinh khôi. Màu trắng không chỉ là sự thuần khiết của tình yêu đơn phương, nó còn là màu của ảo ảnh. Màu trắng làm cho nhà thơ có cảm giác như mình đang lạc vào một giấc mơ. Hình bóng giai nhân tựa như một ảo ảnh, cảm giác hư ảo như một căn bệnh, khiến nhà thơ mơ mà không tỉnh. Chữ “quá” như thể hiện sự ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của người đẹp. Trong thơ cổ, màu trắng mang ý nghĩa của nỗi buồn, của sự tang thương, sự chia ly, còn trong thơ hiện đại lại mang ý nghĩa cách tân hơn, đó là màu của sự trong sáng, ngây thơ, thánh thiện.
Hai câu cuối bài thơ dường như nhấn mạnh vào sự kì ảo, nhà thơ trích dẫn giấc mơ để nói về tâm trạng thất thường của người thi sĩ:
"Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?"
“Ở đây” là nơi nhà thơ bồi hồi, không thể rời xa. Không gian dường như do nhà thơ tự giới hạn và tạo ra khoảng cách giữa nó với thế giới bên ngoài. Màu trắng tạo cảm giác hư ảo, “sương khói” tạo nên hình ảnh giai nhân như đắm chìm trong mộng mơ và sương mù của ký ức. Sương khói mờ nhân ảnh như sương thời gian, vẻ đẹp của cuộc viễn du khiến mối tình bất hạnh của nhà thơ chìm vào dĩ vãng đều bị lớp khói bao phủ.
Bây giờ dường như mọi thứ đều đã quay lưng lại với nhà thơ. Chút tình xưa nghĩa cũ là tất cả những gì ông cần cũng trở nên mong manh và xa cách. Có lẽ vì thế mà người thi sĩ đặt câu hỏi: “Ai biết tình ai có đậm đà?”. Câu thơ như muốn nói rằng “Em biết tình em đậm đà” nhưng câu hỏi của nhân vật trữ tình lại là “Anh nào có biết tình em có đậm đà không?”. Hiểu được điều đó, chúng ta cũng có thể nhìn thấy một tâm hồn khao khát được yêu thương, khao khát được đánh giá cao, nhưng lại phàn nàn về nỗi buồn cay đắng.
Kết thúc bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ ta thấy được tình cảm của nhà thơ đối với thiên nhiên và con người thôn Vĩ. Câu hỏi tu từ ở cuối bài cũng như hai câu hỏi tu từ ở hai khổ thơ trước đều mang đến sức ám ảnh, lùa vào lòng người đọc một nỗi buồn man mác cho tình yêu và cuộc đời của nhà thơ. Đồng thời, khổ thơ còn thành công ở sự sáng tạo ngôn ngữ với nhiều hình ảnh gợi tả. Tất cả là minh chứng cho bút lực tài hoa của Hàn Mặc Tử.
2.2. Phân tích khổ cuối bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ - Mẫu số 2
Hàn Mặc Tử - một trong ba nhà thơ chính của phong trào thơ mới, là một nhà thơ tài hoa nhưng bất hạnh. Các tác phẩm của ông đều được sáng tác với một hồn thơ mãnh liệt nhưng luôn quằn quại đau đớn, giằng xé giữa tâm hồn và thể xác. Trong đó có bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” là một bài thơ giàu cảm xúc của ông dành cho người mình yêu. Khổ thơ cuối chính là một chuỗi tâm trạng mơ hồ, huyền ảo của người thi sĩ.
Từ tâm trạng khắc khoải mong chờ ở khổ 2, đến khổ 3 chuyển sang giọng khẩn thiết, van nài, khao khát được gắn với một hình bóng nào đó:
"Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra"
Hình bóng đặc biệt lúc đầu là một vị khách phương xa, sau đó là em trong sắc áo trắng tinh khôi. Giai nhân trong hình ảnh người khách phương xa dần trở thành em với giấc mộng dài tha thiết. Khách đã xa, mà nay khách đường xa càng xa, kèm theo một “giấc mơ” còn hão huyền hơn. Những bóng hình ấy có đẹp nhưng nó vẫn thuộc về ngoại cảnh của quá khứ, và đối với nhà thơ nó chỉ tồn tại như một giấc mộng dài. Hàn Mặc Tử muốn gặp người khách, gặp giai nhân, nhưng điều ước sẽ không thành hiện thực vì ông chỉ có thể mơ về nó.
Ở câu thơ thứ hai "áo em trắng quá". Từ “quá” ở đây thể hiện sự ngưỡng mộ, ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của giai nhân hiện hữu. Màu trắng xuất hiện ít nhất hai lần: trong văn học trung đại, màu trắng tang tóc, đau thương, buồn bã dường như nói lên sự xa rời, chia ly. Nhưng trong văn học đương đại, đó là sắc trắng mới mẻ, trẻ trung hơn. Nó trong trắng và thuần khiết. Có thể thấy, Hàn Mặc Tử đã có một quan niệm mới, một quan niệm thẩm mỹ cách tân, hiện đại.
Nhưng đến hai câu thơ cuối:
"Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà"
Sương khói hiện tại ở Huế hay sương khói thời gian khiến mọi vật dường như xa vời, “mờ nhân ảnh”. Câu hỏi: "Ai biết tình ai có đậm đà?" kết thúc bài thơ bằng sự băn khoăn. Đại từ phiếm chỉ "ai" vừa kiêu kỳ vừa vang vọng khiến câu thơ xa vắng thoáng chút hụt hẫng cho người viết hoặc có lẽ là cho cô gái ấy. Chỉ biết rằng nó kết thúc bài thơ bằng một nỗi buồn mênh mang, đầy đau đớn trước niềm khát khao sống khôn nguôi và tình yêu thương con người vô bờ bến.
Câu thơ cuối cùng có thể hiểu theo hai cách. Đó là người con gái xứ Huế biết tình cảm của nhà thơ sâu đậm đến mức nào, hay nhà thơ biết cô gái ấy cũng có tình cảm với mình. Nhưng hiểu một cách nào đó vẫn là chia sẻ thấu hiểu và yêu thương dù cô đơn, đau đớn và tuyệt vọng nhưng lại là niềm khao khát thường trực. Cho dù tuyệt vọng, đau đớn và cô đơn, nhà văn vẫn tràn đầy khát khao. Hàn Mặc Tử dù phải đối mặt với bệnh tật, đau khổ nhưng không bao giờ từ bỏ mà luôn chờ đợi một cuộc sống mới.
Cảm nhận về khổ thơ cuối bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” như chạm đến trái tim người đọc, thấu hiểu những ước mơ, hy vọng mà Hàn Mặc Tử mong muốn, tuy rất đời thường nhưng lại vô cùng thiêng liêng của nhà văn. Những câu thơ của ông đã dạy cho chúng ta biết trân trọng cuộc sống, những vẻ đẹp rất đỗi "đời" xung quanh ta.
Trên đây là bài viết của Luật Minh Khuê về chủ đề Phân tích khổ thơ cuối bài Đây thôn Vĩ Dạ. Hy vọng những nội dung trên đây đã giúp ích cho bạn trong quá trình tìm hiểu về tác phẩm Đây thôn Vĩ Dạ của nhà thơ Hàn Mặc Tử.