- 1. Khái quát về nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước
- 2. Nguyên tắc phân chia quyền lực
- 2.1 Sơ lược về nguyên tắc phân chia quyền lực
- 2.2 Việc áp dụng nguyên tắc phân chia quyền lực ở các nước
- 3. Chủ quyền tối cao của nhà nước thuộc về nhân dân, tất cả quyền lực xuất phát từ nhân dân.
- 4. Nguyên tắc tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do xuất bản
1. Khái quát về nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước
Việc tổ chức và hoạt động của nhà nước dân chủ đương đại được tiến hành theo các mô hình chính thể khác nhau. Các mô hình khác nhau có những nguyên tắc tổ chức và hoạt động khác nhau. Tuy nhiên nhìn một cách tổng quát tổ chức và hoạt động của nhà nước dân chủ đương đại cũng có những nguyên tắc chung hình thành trong quá trình hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa của chế độ nhà nước dân chủ. Theo cách hiểu đó, chúng ta thấy nhà nước dân chủ đương đại có các nguyên tắc tổ chức và hoạt động cơ bản sau đây:
2. Nguyên tắc phân chia quyền lực
2.1 Sơ lược về nguyên tắc phân chia quyền lực
Nguyên tắc phân chia quyền lực được xây dựng trên cơ sở học thuyết phân chia quyền lực (còn gọi là thuyết tam quyền phân lập). Người đề xướng học thuyết này là John Locke (1632-1704) và người hoàn thiện nó là Charles De Secondat Montesquieu (1689-1775). Học thuyết phân chia quyền lực được Montesquieu trình bày trong tác phẩm nổi tiếng “Tinh thần pháp luật” (De L’ Esprit des lois) xuất bản năm 1748. Theo ông, quyền lực nhà nước bao gồm ba thứ quyền lực chủ yếu là quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Nếu cả ba thứ quyền lực này tập trung trong tay một người hoặc một cơ quan , sẽ tạo ra sự lạm dụng quyền lực, là nguyên nhân dẫn đến sự xâm phạm các quyền công dân và quyền con người. Trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật” Montesquieu đã viết: “Khi các quyền lập pháp và hành pháp được sát nhập lại trong tay của cùng một người hoặc cùng một Viện nguyên lão thì sẽ không còn gì là tự do nữa, bởi vì người ta sợ rằng chính nhà vua hoặc viện ấy sẽ ban hành ra những đạo luật độc tài để thi hành chúng một cách độc tài. Cũng không có tự do nếu quyền lực tư pháp không được chia tách khỏi các quyền lực lập pháp và hành pháp. Nếu nó nhập lại với quyền lập pháp thì cuộc sống và tự do của công dân sẽ bị đặt vào tình thế được điều khiển một cách độc đoán, vì quan toà cũng đồng thời là nhà lập pháp. Nếu nó được nhập lại với quyền hành pháp, thì quan toà sẽ có cả sức mạnh của kẻ đàn áp. Nếu một người hay một tổ chức của quan chức, hoặc của quý tộc hoặc của dân chúng nắm luôn cả ba thứ quyền lực nói trên thì tất cả sẽ mất hết”.
2.2 Việc áp dụng nguyên tắc phân chia quyền lực ở các nước
“Ở phần lớn các nước châu Âu, việc cai trị thường là có mức đội vì ông vua đã nắm cả hai quyền lập pháp và hành pháp rồi nên ông ta để cho thần dân nắm quyền tư pháp. Còn ở Thổ Nhĩ Kỳ cả ba quyền lực đều nằm trong đầu của Sultan (Vua) nên nền chuyên chế nghiệt ngã đè lên đất nước.
Ở nước cộng hoà Italia, nơi mà cả ba quyền lực nói trên đều nhập lại, thì tự do ít hơn các nước lục địa châu Âu chúng ta. Chính thể cộng hoà ở Italia cũng phải dùng đến các biện pháp hung bạo như ở Thổ Nhĩ Kỳ. Chứng cớ là các quan thanh trà của nhà. nước Italia có thể tố giác sai, và bất cứ lúc nào bọn người xấu cũng có thể bỏ vào hòm thư tố giác những lá thư vu cáo người vô tội mà chúng ghét. Hãy xem người công'dân trong các nước cộng hoà kia ở trong cảnh ngộ: Cơ quan cầm quyền vừa là kẻ thi hành luật vừa tự cho mình là kẻ lập pháp. Họ có thể tàn phá quốc gia bằng những ý chí chung sai lầm của họ. Mà họ còn nắm cả quyền xét xử nữa thì họ có thể đè nát mỗi công dân theo ý muốn của họ”. Như vậy, theo Montesquieu, việc phân chia quyền lực đặt ra không những đối với nhà nước quân chủ mà cả đối với nhà nước cộng hoà. Theo ông, phải tổ chức bộ máy nhà nước sao cho quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp được phân chia cho cho ba hệ thống cơ quan nhà nước khác nhau, độc lập với nhau nhưng có thể kiềm chế, đối trọng và tương tác lẫn nhau. Quyền lập pháp thuộc về Nghị viện, quyền hành pháp thuộc về Chính phủ, quyền tư pháp thuộc về các cơ quan toà án.
Từ ngày ra đời cho đến nay học thuyết phân chia quyền lực ngày càng có ảnh hưởng sâu rộng và hiện nay đang được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới theo hai xu hướng là “rắn” và “mềm” hay nói cách khác là phân chia quyền lực một cách rạch ròi và phân chia quyền lực một cách mềm dẽo. Hoa Kỳ là nhà nước áp dụng nguyên tắc phân chia quyền lực rạch ròi. Các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp hoàn toàn độc lập với nhau nhưng có thể kiềm chế và đối trọng lẫn nhau. Ở Hoa Kỳ quyền lập pháp thuộc về Quốc hội, quyền hành pháp thuộc về Tổng thống, quyền tư pháp thuộc về Toà án. Tổng thống độc lập với Quốc hội bởi Tổng thống do nhân dân bầu ra và không phụ thuộc vào bầu cử Quốc hội. Tổng thống có quyền thành lập Chính phủ và Chính phủ chỉ chịu trách nhiệm trước Tổng thống chứ không chịu trách nhiệm trước Nghị viện. Tổng thống không có quyền giải tán Quốc hội và ngược lại Quốc hội không có quyền bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ. Toà án độc lập với chính quyền lập pháp và hành pháp vì các thẩm phán khi xét xử chỉ tuân theo pháp luật, các thẩm phán được bổ nhiệm suốt đời và không ai có quyền cách chức thẩm phán, trừ trường họp thẩm phán vi phạm pháp luật và bị thải hồi theo thủ tục đàn hạch (Impeachment). Tuy nhiên,các nhánh quyền lực có thể kiềm chế và đối trọng lẫn nhau. Quốc hội nếu không đồng ý với một quyết sách nào đó của Tổng thống thì sẽ không thông qua ngân sách dự tính cho quyết sách đó và như vậy Tổng thống sẽ không thực hiện được quyết sách của mình. Các nhân vật quan trọng trong bộ máy hành pháp và tư pháp do Tổng thống bổ nhiệm nhưng phải được Thượng viện phê chuẩn. Nếu lạm dụng quyền lực hoặc vi phạm pháp luật Tổng thống có thể bị xét xử theo thủ tục đàn hạch, theo đó Hạ viện sẽ buộc tội, Thượng viện sẽ xét xử và Tổng thống có thể bị cách chức trước thời hạn. Ngược lại, Tổng thống cũng có thể kiềm chế Quốc hội bằng quyền phủ quyết (VETO). Các dự luật sau khi được hai viện của Quốc hội thông qua phải gửi cho Tổng thống phê chuẩn. Tổng thống có thời hạn 10 ngày để phê chuẩn hay không phê chuẩn các dự luật. Nếu Tổng thống bác bỏ dự luật,Quốc hội phải thảo luận lại và dự luật chỉ có thể được thông qua nếu sau khi thảo luận lại Quốc hội bỏ phiếu đạt từ 2/3 trở lên số phiếu thuận. Hiến pháp Hoa Kỳ trao cho Pháp viện tối cao và các toà án cấp dưới quyền giám sát tính hợp hiến của các luật. Các luật do Quốc hội ban hành, mặc dù đã có hiệu lực nhưng nếu bị một công dân hay tổ chức nào đó kiện lên Pháp viện tối cao là vi hiến, Pháp viện tối cao sẽ xem xét, luật đó có thể bị Pháp viện tối cao tuyên bố là vi hiến và bị vô hiệu hoá.
Ở các nước có chính thể Cộng hoà nghị viện như Italia, Liên bang Đức, Cộng hoà lưỡng tính như Pháp, Liên bang Nga, Quân chủ lập hiến như Anh, Nhật bản, Thụy Điển, Thái Lan học thuyết phân chia quyền lực được áp dụng một cách mềm dẻo. Các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp được phân chia thành ba nhánh quyền lực độc lập với nhau nhưng có sự phối hợp và tương tác chặt chẽ với nhau trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình.
Nguyên tắc phân chia quyền lực là một trong những nguyên tắc cơ bản và quan trọng nhất của nhà nước tư sản. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu một cách thấu đáo và không thiên lệch về nguyên tắc này. Nhiều người cho rằng nguyên tắc phân chia quyền lực chỉ phù họp với thể chế đa nguyên chính trị và không phù hợp với thể chế quyền lực nhà nước thống nhất như ở nước ta. Thực ra, sẽ hoàn toàn sai lầm nếu cho rằng ở các nhà nước tư sản quyền lực nhà nước không thống nhất. Việc phân chia quyền lực nhà nước ở các nhà nước tư sản được phân chia theo chiều ngang và chiều dọc. Theo chiều ngang, quyền lực nhà nước phân chia thành 3 nhánh: Lập pháp, hành pháp và tư pháp. Quyền lập pháp trao cho Nghị viện, quyền hành pháp trao cho Chính phủ và hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, quyền tư pháp trao cho hệ thống cơ quan xét xử. Theo chiều dọc, quyền lực nhà nước được phân chia giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương. Việc phân chia quyền lực như vậy nhằm khắc phục tình trạng chuyên chế, khi quyền lực nhà nước tập trung vào trong tay một người hoặc một cơ quan. Việc phân chia quyền lực như vậy cũng có nghĩa là phân định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cho các hệ thống cơ quan nhà nước khác nhau, nhờ đó mà tránh được sự chồng chéo, lẫn lộn hoặc tranh giành quyền lực giữa các hệ thống cơ quan nhà nước khác nhau. Do đó có thể nói rằng sự phân chia quyền lực không những không làm ảnh hưởng đến việc thống nhất quyền lực mà còn là điều kiện đảm bảo cho sự thống nhất quyền lực. Cũng giôhg như con người, các bộ phận trong cơ thể đều thực hiện những chức năng, nhiệm vụ riêng nhưng cơ thể con người là một thể thống nhất, một bộ phận trong cơ thể con người bị bệnh nếu không được chữa trị, sẽ lây lan đến các bộ phận khác. Cơ thể con người chỉ thực sự khỏe mạnh khi mọi bộ phận trong cơ thể khỏe mạnh. Như thế, chúng ta có thể thấy rằng tuy các bộ phận ưong cơ thể con người được phân chia làm những chức năng, nhiệm vụ khác nhau nhưng chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau, tạo thành một thể chế thống nhất. Cơ thể của chúng ta khoẻ mạnh, các bộ phận hoạt động nhịp nhàng bởi có sự điều hòa, phối hợp giữa các bộ phận của cơ thể. Bộ máy nhà nước muốn hoạt động nhịp nhàng cũng phải dựa trên các nguyên tắc tương tự. Tuy có sự phân chia quyền lực rõ ràng giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp nhưng chúng ta cũng thấy giữa các cơ quan này có sự liên hệ khăng khít với nhau. Nếu Nghị viện ban hành các luật không có chất lượng cao thì việc thực hiện các luật đó đối với cơ quan hành pháp sẽ hết sức khó khăn. Nếu các cơ quan hành pháp không thực hiện tốt những chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của mình thì dù hoạt động lập pháp có tốt đến đâu, pháp luật cũng không có khả năng đi vào đời sống thực tiễn. Các cơ quan tư pháp nếu không xét xử nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật thì liệu các luật do Nghị viện làm ra liệu có được nhân dân tôn trọng thực hiện. Như vậy muốn cho pháp luật được thực hiện triệt để, xã hội có trật tự, kỷ cương thì ba hệ thống cơ quan nhà nước lập pháp, hành pháp và tư pháp đều phải hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Muốn chúng thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ quyền hạn của mình thì chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chúng phải được xác định một cách rạch ròi. Nói cách khác quyền lực của nó phải được phân định rõ ràng sao cho cơ quan này không làm công việc của cơ quan khác, không nhầm lẫn hay tranh giành công việc của cơ quan khác. Giữa các hệ thôhg cơ quan có sự phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình và không cản trở nhau khi thi hành nhiệm vụ. Đây chính là hạt nhân hợp lý của thuyết phân chia quyền lực.
3. Chủ quyền tối cao của nhà nước thuộc về nhân dân, tất cả quyền lực xuất phát từ nhân dân.
Các Hiến pháp các nhà nước dân chủ đương đại đều xác lập nguyên tắc chủ quyền tối cao của nhà nước thuộc về nhân dân và tất cả quyền lực nhà nước xuất phát từ nhân dân (Điều 3 Hiến pháp 1958 của cộng hoà Pháp, Điều 3 Hiến pháp 1993 của cộng hoà liên bang Nga, Điều 1 Hiến pháp năm 1975 của Thụy Điển, Điều 1 Hiến pháp năm 1987 của Hàn Quốc...).
Chủ quyền tối cao của nhà nước thuộc về nhân dân thể hiện tất cả các công việc quan trọng nhất của nhà nước do nhân dân định đoạt. Nhân dân có thể thực hiện chủ quyền tối cao của mình bằng các phương pháp dân chủ trực tiếp (như trưng cầu dân ý, bầu cử phổ thông đầu phiếu) hoặc các biện pháp dân chủ gián tiếp thông qua Nghị viện và các cơ quan dân cử ở địa phương). Các công việc quan trọng nhất của đất nước là các công việc liên quan đêh vận mệnh quốc gia, lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc. Hiện nay, ở một số nước tư bản phát triển như Pháp, Anh, Thụy Điển, Hà Lan, Bỉ, Đức... đã hình thành một quan niệm phổ biến về việc trưng cầu dân ý khi giải quyết những vấn đề nói trên. Chúng ta thấy hầu hết các nước châu Âu đều tổ chức trưng cầu dân ý khi quyết định vấn đề có tham gia liên minh châu Âu hay không, có bỏ đổng tiền riêng của quốc gia mình để dùng đồng tiền chung (Euro) hay không? Hiến pháp năm 1958 của Pháp sau khi được hai viện của Nghị viện thông qua còn được trưng cầu dân ý để dân quyết định có ban hành Hiến pháp đó hay không. Thực tiễn ở các nhà nước tư sản cho thấy trưng cầu dân ý như là một biện pháp bảo đảm tính đúng đắn của các quyết sách đặc biệt quan trọng của Nghị viện cũng như của Chính phủ. Một số nhà rííiớc tư sản đã vi phạm nguyên tắc này nên đã gây ra những sai lầm đáng tiếc. Chính phủ Hoa Kỳ đã thực hiện nhiều chính sách phiêu lưu quân sự, bất chấp dư luận của nhân dân Mỹ nên đã sa lầy trong chiến tranh xâm lược ở Việt Nam và các cuộc chiến tranh ở Trung Đông. Liên hệ nguyên tắc này đối với Việt Nam trong điều kiện hiện nay là hết sức cần thiết. Nhiều vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội đặc biệt quan trọng phải cần đến sự sáng suốt của toàn thể nhân dân như vấn đề sở hữu đất đai, vấn đề bầu cử, vấn đề cải cách bộ máy nhà nước, vấn đề ban hành và sửa đổi Hiến pháp là những vấn đề mà Việt Nam cũng cần phải giải quyết thông qua trưng cầu dân ý.
4. Nguyên tắc tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do xuất bản
Đây là một nguyên tắc đặc biệt quan trọng để thiết lập nền tảng của chế độ dân chủ như là nền móng của một công trình kiến trúc. Hiến pháp cộng hoà liên bang Nga 1993 tại Điều 13 đã tuyên bố: “Liên bang Nga thừa nhận một hệ tư tưởng đa dạng. Không một hệ tư tưởng nào được coi là hệ tư tưởng của nhà nước và bắt buộc”. Hiến pháp Hàn Quốc quy định: “Mọi công dân đều có quyền tự do tư tưởng” (Điều 19), “Mọi công dân đều có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do hội họp và lập hội” (Điều 21).
Nguyên tắc này trên thực tế buộc Chính phủ không được thiết lập bất kỳ một hệ tư tưởng nào là hệ tư tưởng thống soái trong xã hội; Chính phủ không được phép can thiệp vào hoạt động báo chí, xuất bản, đồng thời cũng tạo cho báo chí khả năng phê phán Chính phủ khi Chính phủ có những quyết sách không đúng đắn, có hiện tượng tham nhũng hoặc bê bối.
CƠ SỞ PHÁP LÝ
Hiến pháp nước Cộng hòa Ba Lan 1997
Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993
Hiến pháp Italia 1947
Hiến pháp Nhật Bản 1946
hiến pháp cộng hòa Xéc năm 1992
Đạo luật Liên bang Áo năm 1970
Trân trọng!