1. Dấu hiệu của tội hủy hoại rừng

1.1. Chủ thể của tội phạm: Là cá nhân và pháp nhân thương mại.

- Là cá nhân từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự.

Lưu ý, người chủ rừng được giao quản lý; bảo vệ rừng nếu có hành vi hủy hoại rừng do mình được giao chăm sóc; quản lý, bảo vệ thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.

Trong trường hợp “Diện tích rừng hoặc trị giá lâm sản dưới mức quy định tại một trong các điểm a, b, c, d, đ và e” khoản 1, dấu hiệu nhân thân “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” được xác định là một dấu hiệu định tội.

- Pháp nhân thương mại cũng có thể trở thành chủ thể của tội hủy hoại rừng.

1.2. Mặt khách quan của tội phạm:

Theo điều 243, Bộ luật hình sự 2017 quy định về tội hủy hoại rừng như sau:

1. Người nào đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác hủy hoại rừng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích từ 30.000 mét vuông (m2) đến dưới 50.000 mét vuông (m2);

b) Rừng sản xuất có diện tích từ 5.000 mét vuông (m2) đến dưới 10.000 mét vuông (m2);

c) Rừng phòng hộ có diện tích từ 3.000 mét vuông (m2) đến dưới 7.000 mét vuông (m2);

d) Rừng đặc dụng có diện tích từ 1.000 mét vuông (m2) đến dưới 3.000 mét vuông (m2);

đ) Gây thiệt hại về lâm sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng trong trường hợp rừng bị thiệt hại không tính được bằng diện tích;

e) Thực vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA trị giá từ 20.000.000 đồng đến dưới 60.000.000 đồng; thực vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA trị giá từ 40.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;

g) Diện tích rừng hoặc trị giá lâm sản dưới mức quy định tại một trong các điểm a, b, c, d, đ và e khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

- Hành vi khách quan của tội phạm này thể hiện bằng những hành vi sau:

+ Đốt rừng trái phép để làm nương rẫy: là hành vi đốt, phá rừng làm nương, rẫy ngoài vùng do Ủy ban nhân dân cấp huyện quy định.

+ Hành vi phá rừng trái phép là hành vi phá rừng để lấy đất trồng trọ, chăn nuôi, xây dựng đường, nhà cửa, đường dây điện, làm công trình thủy lợi, khai thác than, tài nguyên khoáng sản khác, đào đắp bờ trong rừng ngập mặn để nuôi trồng thủy sản mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép. Hoặc được phép phá rừng nhưng không thực hiện đúng quy định như phá rừng ngoài phạm vi, vượt diện tích cho phép.

+ Tội phạm thực hiện có thể bằng hành vi khác như sử dụng các loại hóa chất hoặc gieo rắc các loại sâu bọ, côn trùng có hại để hủy hoại rừng.

1.3. Mặt chủ quan của tội phạm:

Tội phạm này được thực hiện với lỗi cố ý. Động cơ và mục đích đa dạng nhưng không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm.

1.4. Khách thể của tội phạm

Tội hủy hoại rừng là tội xâm phạm đến chế độ quản lý rừng của nhà nước; xâm phạm nghiêm trọng đến môi trường sinh thái, gây ra những hậu quả nghiêm trọng khác cho đời sống xã hội.

Đối tượng tác động của tội phạm này chính là rừng; gồm: rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất.

2. Khung hình phạt đối với tội gây cháy rừng

Điều 243 BLHS năm 2015 quy định các khung hình phạt sau:

2.1. Đối với cá nhân:

+ Khung 1. (cơ bản) Nếu phạm tội theo khoản 1 của Điều luật này thì người phạm tội sẽ bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

+ Khung 2.(tăng nặng) Nếu phạm tội theo khoản 2 của Điều luật này thì người phạm tội sẽ bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm, áp dụng đối với các trường hợp như: Có tổ chức; lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; Tái phạm nguy hiểm; Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích từ 50.000 mét vuông (m2) đến dưới 100.000 mét vuông (m2); Rừng sản xuất có diện tích từ 10.000 mét vuông (m2) đến dưới dưới 50.000 mét vuông (m2); Rừng phòng hộ có diện tích từ 7.000 mét vuông (m2) đến dưới dưới 10.000 mét vuông (m2); Rừng đặc dụng có diện tích từ 3.000 mét vuông (m2) đến dưới dưới 5.000 mét vuông (m2); Gây thiệt hại về lâm sản trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng trong trường hợp rừng bị thiệt hại không tính được bằng diện tích; Thực vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA trị giá từ 60.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng; thực vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.

+ Khung 3. (tăng nặng) Nếu phạm tội theo khoản 3 của Điều luật này thì người phạm tội sẽ bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm, áp dụng đối với các trường hợp như: Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích 100.000 mét vuông (m2) trở lên; Rừng sản xuất có diện tích 50.000 mét vuông (m2) trở lên; Rừng phòng hộ có diện tích 10.000 mét vuông (m2) trở lên; Gây thiệt hại về lâm sản trị giá 200.000.000 đồng trở lên trong trường hợp rừng bị thiệt hại không tính được bằng diện tích; Thực vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp quý, hiếm Nhóm IA trị giá 100.000.000 đồng trở lên; thực vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp quý, hiếm Nhóm IIA trị giá 200.000.000 đồng trở lên.

Hình phạt bổ sung: Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

2.2. Đối với pháp nhân thương mại:

+ Hình phạt chính: Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng; Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng. Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 5.000.000.000 đồng đến 7.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời gian từ 06 tháng đến 03 năm; Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;

+ Hình phạt bổ sung: Pháp nhân còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

3. Để bảo vệ rừng, pháp luật có những quy định thế nào?

Như đã nói trên, vì rừng có tầm quan trọng rất đặc biệt nên Luật Lâm nghiệp (có hiệu lực thi hành từ 01.01.2019) đã dành riêng một Chương (Chương IV) và nhiều văn bản dưới luật quy định việc bảo vệ rừng. Những quy định bảo vệ rừng trong Luật Lâm nghiệp gồm: Bảo vệ hệ sinh thái rừng (Điều 37); bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng (Điều 38); phòng cháy và chữa cháy rừng (Điều 39); phòng, trừ sinh vật gây hại rừng (Điều 40); lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng của chủ rừng (Điều 41); kiểm tra nguồn gốc lâm sản (Điều 42); trách nhiệm bảo vệ rừng của toàn dân (Điều 43).

Những điều luật trên quy định rất rõ nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân phải thực hiện trong việc bảo vệ rừng. Đơn cử, Điều 39 quy định việc phòng cháy và chữa cháy rừng nêu rõ: Chủ rừng phải lập và thực hiện phương án phòng cháy và chữa cháy rừng; chấp hành sự hướng dẫn, kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Mọi trường hợp sử dụng lửa trong rừng, gần rừng để dọn nương rẫy, dọn đồng ruộng, chuẩn bị đất trồng rừng, đốt trước mùa khô hanh hoặc dùng lửa vì mục đích khác, người sử dụng lửa phải thực hiện các biện pháp phòng cháy và chữa cháy rừng. Khi xảy ra cháy rừng, chủ rừng phải kịp thời chữa cháy rừng, thông báo ngay cho cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan; khắc phục hậu quả sau cháy rừng và báo cáo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm phối hợp chữa cháy rừng kịp thời…

Và để bảo vệ rừng, Điều 9  Luật này còn quy định “Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động lâm nghiệp” như: Chặt, phá, khai thác, lấn, chiếm rừng trái quy định của pháp luật; hủy hoại tài nguyên rừng, hệ sinh thái rừng, công trình bảo vệ và phát triển rừng…Đồng thời những hành vi vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định tại Nghị định 35/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Lâm nghiệp; gây hậu quả nghiêm trọng còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

4. Hiện nay pháp luật quy định như thế nào về việc giao khoán rừng?

Khoán rừng ngoài mục đích kinh tế cũng là một trong các biện pháp để bảo vệ rừng. Khoán rừng được quy định tại Nghị định 168/2016/NĐ-CP. Theo Khoản 1, Điều 3, Nghị định này thì: Khoán rừng là hình thức thỏa thuận thực hiện công việc trong hoạt động quản lý bảo vệ, sử dụng, sản xuất kinh doanh giữa bên khoán và bên nhận khoán trong một thời hạn nhất định.

Để được khoán rừng hoặc nhận khoán rừng thì bên khoán và bên nhận khoán phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chí theo quy định tại Điều 4, Nghị định trên, như:

- Bên khoán phải được Nhà nước giao đất, cho thuê đất nông nghiệp và tài sản gắn liền trên đất theo quy định của pháp Luật về đất đai và pháp Luật về bảo vệ và phát triển rừng; có kế hoạch tổ chức sản xuất kinh doanh phù hợp với quy hoạch và dự án về bảo vệ và phát triển rừng hoặc đề án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt theo quy định hiện hành của Nhà nước.

- Bên nhận khoán: Cá nhân nhận khoán có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và trong độ tuổi lao động, đảm bảo thực hiện được hợp đồng khoán và không là thành viên trong hộ gia đình hoặc cộng đồng dân cư thôn đã nhận khoán…

Bên cạnh đó Nghị định 168/2016/NĐ-CP còn quy định: Đối tượng áp dụng; hình thức khoán; thời hạn, hạn mức và đơn giá khoán; trình tự, thủ tục khoán; quyền và trách nhiệm của bên khoán và nhận khoán…

5. Quy định về xử phạt hành chính đối với hành vi gây cháy rừng

Về xử phạt hành chính: Hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về phòng cháy và chữa cháy rừng gây cháy rừng, bị xử phạt theo quy định tại Điều 17, Nghị định 35/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Lâm nghiệp. Tùy theo tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra sẽ bị áp dụng mức xử phạt tương ứng. Mức phạt thấp nhất là 1 triệu đồng, mức phạt cao nhất là 100 triệu đồng. Bên cạnh đó còn bị buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh; buộc trồng lại rừng hoặc thanh toán chi phí trồng lại rừng.