Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hôn nhân của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi: 1900.6162

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật dân sự năm 2015

- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

2. Nghĩa vụ cấp dưỡng cho con khi ly hôn là gì?

Nghĩa vụ cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn là một nghĩa vụ pháp lý mà cha hoặc mẹ bắt buộc phải làm đối với con, nếu con là người chưa thành niên hoặc đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, khi không là người trực tiếp nuôi dưỡng con sau khi đã chấm dứt quan hệ hôn nhân bằng việc đóng góp tiền hoặc hiện vật tương ứng với nhu cầu thiết yếu của con đồng thời phù hợp với khả năng thực tế của mình để bù đắp những tổn thất về mặt vất chất cho con khi con không được chung sống đồng thời với cha và mẹ.

3. Phương thức cấp dưỡng cho con khi ly hôn là gì?

Sau khi đã xác định được chủ thể thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, mức cấp dưỡng phù hợp thì việc lựa chọn cách thức để chuyển giao khoản cấp dưỡng đó đến cho người được cấp dưỡng là điều không thể không xét đến. Điều 117 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định về phương thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng như sau:

“Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần.

>> Xem thêm:  Ly hôn khi không có giấy khai sinh của con, không có giấy kết hôn bản gốc ?

Các bên có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.”

Theo quy định này, về phương thức cấp dưỡng có hai nội dung cần làm rõ đó là: Một là các phương thức cấp dưỡng được áp dụng, hai là việc thay đổi phương thức cấp dưỡng và tạm ngừng cấp dưỡng.

3.1. Về các phương thức cấp dưỡng được áp dụng:

Theo quy định tại Điều 117 đã trích dẫn trên, việc cấp dưỡng có thể được thực hiện theo hai cách thức đó là: cấp dưỡng định kỳ (hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm) hoặc cấp dưỡng một lần tùy thuộc vào sự thỏa thuận của các bên.

Cũng giống như mức cấp dưỡng, pháp luật hôn nhân và gia đình cũng quy định cho các bên có quyền thỏa thuận lựa chọn phương thức cấp dưỡng. Quy định như vậy là phù hợp với thực tiễn, bởi chỉ có hai bên cha mẹ mới có thể hiểu rõ được phương thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nào là phù hợp với nhu cầu thiết yếu của con cũng như thuận lợi cho việc thi hành của người có nghĩa vụ cấp dưỡng.

- Về phương thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm:

Để đảm bảo quyền lợi cho người con, và để người không trực tiếp nuôi con thực hiện nghĩa vụ của mình một cách đều đặn đồng thời nhằm duy trì tình cảm giữa con và người không trực tiếp nuôi dưỡng, pháp luật hôn nhân và gia đình xây dựng phương thức cấp dưỡng theo định kỳ tháng, hàng quý, nửa năm và hàng năm. Việc cấp dưỡng được chia theo chu kỳ ngắn như vậy thì khoản tiền cấp dưỡng sẽ nhỏ hơn, sẽ tạo cho người có nghĩa vụ tâm lý nhẹ nhàng hơn và sẵn sàng thực hiện. Như vậy, sẽ tránh được tình trạng chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng do khoản tiền cấp dưỡng quá lơn khiến người có nghĩa vụ cấp dưỡng không có khả, làm ảnh hưởng đến cuộc sống của những người con được cấp dưỡng. Hơn nữa, khoản tiền cấp dưỡng là để phục vụ nhu cầu hàng ngày của con nên cấp dưỡng theo định kỳ đều đặn sẽ đảm bảo luôn luôn có khoản để chi cho nhu cầu của con thường xuyên.

Mặt khác, nếu chỉ với mục đích đảm bảo có khoản cấp dưỡng chu cấp đều đặn cho nhu cầu thiết yếu của con thì pháp luật không nhất thiết phải ghi nhận nhiều cách thức cấp dưỡng theo định kỳ như vậy. Ngoài cấp dưỡng hàng tháng, pháp luật còn ghi nhận cấp dưỡng theo quý, nửa năm hoặc hàng năm. Điều đó cho thấy quy định này còn nhằm đảm bảo phù hợp với tình hình thu nhập (khả năng) của người có nghĩa vụ. Đối với người lao động hưởng lương hàng tháng thì nên lựa chọn cấp dưỡng định kỳ hàng tháng. Nhưng đối với những người lao động tự do, kinh doanh, làm nghề nông thì phương thức cấp dưỡng theo quý, nửa năm, hàng năm có lẽ sẽ phù hợp hơn.

Hơn nữa, trong một số trường hợp nhiều khi khoản tiền cấp dưỡng rất nhỏ việc thực hiện theo tháng sẽ trở nên lắt nhắt và mất nhiều thời gian thi hành án. Khi đó, phương thức cấp dưỡng theo quý, nửa năm, hàng năm sẽ thuận tiện hơn về mọi mặt.

- Về phương thức cấp dưỡng một lần

Bên cạnh phương thức cấp dưỡng định kỳ, Luật HN&GĐ năm 2014 còn ghi nhận phương thức cấp dưỡng một lần. Việc ghi nhận đương sự có thể lựa chọn áp dụng phương thức cấp dưỡng này nhằm bảo vệ quyền lợi của người được cấp dưỡng trong những trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng có hành vi trốn tránh, trì hoãn thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, đồng thời bảo đảm việc thi hành nghĩa vụ cấp dưỡng nhanh gọn và hiệu quả nhất.

>> Xem thêm:  Nuôi dưỡng là gì ? Quy định pháp luật về nuôi dưỡng

Trước đây phương thức cấp dưỡng một lần chỉ được lựa chọn áp dụng trong một số trường hợp nhất định theo quy định tại khoản 2 Điều 18 Nghị đinh số 70/2001/NĐ-CP đó là: do các bên tự thỏa thuận; theo yêu cầu của người có nghĩa vụ và được tòa án chấp nhận; theo yêu cầu của người được cấp dưỡng (hoặc người giám hộ) và được tòa án chấp nhận trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng thường xuyên có hành vi phát tán tài sản hoặc cố tình trốn tránh thực hiện nghĩa vụ mà hiện có tài sản để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng một lần và cuối cùng là theo yêu cầu của người trực tiếp nuôi con khi vợ chồng ly hôn mà có thể trích từ phần tài sản được chia của bên có nghĩa vụ cấp dưỡng. Theo tác giả, quy định áp dụng phương thức cấp dưỡng một lần trong một số trường hợp như vậy là dư thừa. Bởi lẽ, rõ ràng rằng pháp luật đã quy định cho các đương sự tự thỏa thuận và thỏa thuận làm sao cho phù hợp với tình hình thu nhập của người có nghĩa vụ đồng thời phù hợp với tình hình của người con được cấp dưỡng. Cùng với đó, khi ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên Tòa án cũng xem xét sự hợp tình, hợp lý của thỏa thuận đó. Do vậy, quy định này là không cần thiết, pháp luật hôn nhân gia đình hiện hành cũng đã không đề cập tới nội dung này, đó là điều hợp lý. Chỉ cần hiểu đơn giản rằng, khi có yêu cầu của một trong hai bên về việc cấp dưỡng theo phương thức một lần Tòa án cần xem xét người có nghĩa vụ cấp dưỡng có hành vi trốn tránh thực hiện nghĩa vụ hay có nhằm mục đích trốn tránh thực hiện một nghĩa vụ thi hành án khác hay không? Đồng thời xem xét người có nghĩa vụ có đủ khả năng thưc hiện cấp dưỡng một lần không? Xét đủ và xác minh đúng các yếu tố đó thì phương thức cấp dưỡng một lần hoàn toàn có thể được áp dụng mà không cần thêm quy định rờm rà nào khác vì thực tế mục đích của cấp dưỡng vẫn đạt được.

Cũng cần nói thêm rằng, cấp dưỡng một lần không phải là cấp dưỡng trọn gói và sau đó chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng. Bởi lẽ, nhu cầu thiết yếu của con sẽ có sự thay đổi cùng với sự vận động của xã hội mà mức cấp dưỡng được ấn đinh trong trường hợp này không thể dự liệu hết những thay đổi đó tại thời điểm giải quyết. Do đó, nếu cấp dưỡng một lần đồng thời chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng sẽ ảnh hưởng rất nhiều tới quyền lợi của con. Vì thế mà trong các trường hợp chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng được pháp luật quy định không có trường hợp này.

Lựa chọn phương thức cấp dưỡng một lần có lợi trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng có hành vi trốn tránh và tranh thủ được thời điểm người có nghĩa vụ cấp dưỡng đang có tài sản. Tuy nhiên, việc xác định thời gian cấp dưỡng trong trường hợp này còn nhiều bất cập nhất là khi đối tượng cấp dưỡng là con chưa thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Hơn nữa, pháp luật hiện hành không có bất kỳ một quy định nào về hệ quả của việc áp dụng phương thức cấp dưỡng một lần như: quản lý khoản cấp dưỡng một lần ra sao? Vì lý do chính đáng người được cấp dưỡng sử dụng hết khoản tiền cấp dưỡng một lần có được yêu cầu cấp dưỡng bổ sung không cũng chưa được đề cập tới. Do đó, việc áp dụng phương thức cấp dưỡng một lần còn rất nhiều vấn đề cần bàn luận và nếu không giải quyết triệt để có thể ảnh hưởng tới quyền lợi của chính người được cấp dưỡng và người có nghĩa vụ cấp dưỡng.

Tóm lại, xác định phương thức cấp dưỡng phù hợp cũng là một trong những nội dung quan trọng trong việc đảm bảo tính khả thi của việc thi hành nghĩa vụ cấp dưỡng cho con khi ly hôn.

3.2. Về việc thay đổi phương thức cấp dưỡng và tạm ngừng cấp dưỡng:

Cũng giống như việc xác định mức cấp dưỡng, pháp luật hôn nhân gia đình hiện hành cũng cho phép các bên thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Quy định này có ý nghĩa rất lớn đối với người có nghĩa vụ cấp dưỡng, bởi lẽ trên thực tế cuộc sống của mỗi người luôn có những thay đổi theo sự vận động chung của xã hội. Khi người có nghĩa vụ cấp dưỡng rơi vào hoàn cảnh khó khăn túng thiếu do ốm đau, bệnh tật, do kinh doanh thua lỗ,… làm giảm sút thu nhập thậm chí không đủ để trang trải cho nhu cầu thiết yếu của chính bản thân họ thì yêu cầu tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con là điều rất cần thiết.

Tuy nhiên, pháp luật hôn nhân gia đình mới chỉ dừng lại ở việc ghi nhận, chưa hoàn thiện các quy định để quy định về tạm ngừng cấp dưỡng có tính khả thi trên thực tế. Thời hạn tạm ngừng trong bao lâu? Người có nghĩa vụ cấp dưỡng có phải cấp dưỡng bù cho khoảng thời gian đã tạm ngừng hay không là vấn đề cần được quy định rõ. Nếu không xem xét quy định chặt chẽ, đây sẽ là cơ hội cho những người có nghĩa vụ cấp dưỡng trốn tránh thực hiện nghĩa vụ của mình.

Theo tác giả, về thời hạn tạm ngừng cấp dưỡng, thời hạn sáu tháng sẽ là một khoảng thời gian phù hợp để người có nghĩa vụ có thể khắc phục những khó khăn đồng thời cũng là khoảng thời gian không dài đủ để không ảnh hưởng quá lớn tới nhu cầu của người được cấp dưỡng. Sau thời hạn 6 tháng, theo yêu cầu của người được cấp dưỡng Tòa án sẽ xem xét đánh giá khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng, nếu có lý do thỏa đáng và tùy từng trường hợp cụ thể có thể gia hạn thêm thời gian. Các bên sẽ tự thỏa thuận về việc cấp dưỡng bù cho thời gian đã tạm ngừng, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Thời hạn cấp dưỡng cấp dưỡng cho con khi ly hôn là bao lâu?

Việc xác định thời hạn cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn có ý nghĩa rất lớn trong việc đảm bảo quyền lợi cho con đồng thời là cơ sở để tiến hành thi hành án cấp dưỡng.

Điều 144 BLDS năm 2015 định nghĩa về thời hạn như sau: “Thời hạn là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác.”

>> Xem thêm:  Cách giải quyết xung đột pháp luật về kết hôn, ly hôn ở Việt Nam ?

Theo đó, đối với cấp dưỡng không phải trong mọi trường hợp đều xác định được thời hạn cấp dưỡng rõ ràng và tuyệt đối. Thực tế tại các Tòa án, việc xác định thời hạn cấp dưỡng tùy thuộc vào đối tượng được cấp dưỡng. Vì sự khác biệt về đối tượng được cấp dưỡng khi cha mẹ ly hôn nên vấn đề xác định thời hạn cấp dưỡng cho mỗi đối tượng cũng khác nhau. Đối với con chưa thành niên việc xác định thời hạn thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng chính là hiệu số của tuổi thành niên và độ tuổi tại thời điểm bắt đầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Còn đối với con chưa thành niên việc xác định thời hạn là không khả thi bởi việc xác định thời điểm kết thúc tại thời điểm giải quyết là không thể vì không có căn cứ nào khẳng định được khi nào thì con đã thành niên không còn ở trong tình trạng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

4.1. Thời điểm bắt đầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng

Luật HN&GĐ năm 2014 không có quy định cụ thể nào về căn cứ xác định thời điểm bắt đầu cấp dưỡng. Điều 110 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con”. Suy luận từ quy định trên thì thời điểm cấp dưỡng sẽ được xác định là ngày mà người không trực tiếp nuôi con không sống chung với con. Nhưng trên thực tế, các trường hợp có tranh chấp hoặc là vụ việc Tòa án giải quyết thì các tòa án thường ấn định thời điểm bắt đầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân của cha mẹ (quyết định ly hôn có hiệu lực). Chẳng hạn như: “Việc cấp dưỡng được thực hiện từ khi bản án có hiệu lực pháp luật đến khi….”. Như vậy, hầu hết các bản án về ly hôn khi ấn định thời điểm bắt đầu cấp dưỡng nuôi con Tòa án luôn ấn định là thời điểm quan hệ hôn nhân của cha mẹ chấm dứt.

4.2. Thời điểm chấm dứt thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng

Luật HN&GĐ năm 2014 cũng không có quy định nào quy định về căn cứ xác định thời điểm chấm dứt việc cấp dưỡng. Trên thực tế, thời điểm chấm dứt việc cấp dưỡng không phải lúc nào cũng xác định được rõ ràng mà phụ thuộc vào đối tượng được cấp dưỡng.

Theo đó, đối với con chưa thành niên thời điểm chấm dứt thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng được xác định là thời điểm con đã thành niên và có khả năng lao động tạo ra thu nhập đủ để nuôi sống bản thân. Trên thực tế tòa án thường ấn định thời điểm chấm dứt như sau: “cho đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành”; “đến lúc con trưởng thành đủ 18 tuổi”; “đủ 18 tuổi”; “đến lúc con đủ 18 tuổi và có khả năng lao động”…. Có thể lý giải việc ấn định thời điểm chấm dứt cấp dưỡng này là xuất phát từ việc quy định đối tượng được cấp dưỡng.

Đối với trường hợp con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình sẽ không xác định được thời điểm chấm dứt. Bởi con đã thành niên không có khả năng lao động có nhiều nguyên nhân: do con có khiếm khuyết về thể chất, con thường xuyên đau ốm, sức khỏe yếu không đủ khả năng tham gia lao động; có khiếm khuyết về trí tuệ như bị tâm thần hoàn toàn không ý thức và điều khiển được hành vi của bản thân, không đủ tỉnh táo hoặc các bệnh lý khác dẫn đến không có khả năng lao động, hoặc do đã dành toàn bộ thời gian để học tập... Do đó, chúng ta mặc nhiên hiểu rằng sẽ cấp dưỡng con cho đến khi người con không còn ở trong tình trạng đó nữa thì người có nghĩa vụ có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố chấm dứt thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

Xác định thời hạn cấp dưỡng là một trong những nội dung quan trọng trong thực tiễn thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con khi ly hôn. Tuy nhiên, pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành chưa có quy định cụ thể nào về nội dung này. Điều đó dẫn đến thiếu thống nhất trong công tác áp dụng pháp luật tại Tòa án.

5. Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con khi ly hôn

Pháp luật ghi nhận nghĩa vụ cấp dưỡng của cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn có ý nghĩa rất quan trọng vì nó liên quan trực tiếp đến cuộc sống của đứa con được cấp dưỡng. Nhưng làm thế nào để người có nghĩa vụ cấp dưỡng tự giác thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ cũng quan trọng không kém. Trên thực tế vẫn có rất nhiều cha mẹ sau khi ly hôn không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng của mình, gây ra khó khăn rất lớn cho người trực tiếp nuôi con và thiệt thòi cho chính những đứa con vốn đã chịu nhiều tổn thương về mặt tình cảm. Chính vì thế, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người được cấp dưỡng, pháp luật cũng đã ghi nhận một số biện pháp và chế tài xử lý nhằm cưỡng chế, răn đe người có hành vi trốn tránh thực hiện nghĩa vụ, đảm bảo cho nghĩa vụ cấp dưỡng được thực thi hiệu quả hơn trên thực tế.

Một là, ghi nhận quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thi hành án cấp dưỡng cho con phải thực hiện nghĩa vụ. Quyền này được quy định cụ thể tại Điều 119 Luật HN&GĐ năm 2014.

Theo đó, người được cấp dưỡng, cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó; người thân thích; cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó. Ngoài ra, còn quy định thêm cá nhân, cơ quan, tổ chức khác phát hiện hành vi trốn tránh cũng có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều 119 yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ.

>> Xem thêm:  Ly hôn là gì ? Quy định pháp luật về li hôn

Hai là, ghi nhận biện pháp trừ vào thu nhập của người có nghĩa vụ tại Điều 78 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014 (Luật THADS):

Trước đây, biện pháp khấu trừ thu nhập của người có nghĩa vụ được quy định tại khoản 3 Điều 20 Nghị định số 70/2000/NĐ-CP như sau: “3. Theo quyết định của Toà án, cơ quan, tổ chức trả tiền lương, tiền công lao động, các thu nhập thường xuyên khác cho người có nghĩa vụ cấp dưỡng có trách nhiệm thực hiện việc khấu trừ khoản cấp dưỡng để chuyển trả cho người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó theo đúng mức và phương thức cấp dưỡng do người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó và người có nghĩa vụ cấp dưỡng thoả thuận hoặc theo mức và phương thức cấp dưỡng do Toà án quyết định.”

Hiện nay, Luật HN&GĐ năm 2014 cùng với văn bản hướng dẫn thi hành không còn quy định về biện pháp khấu trừ này. Tuy nhiên, biện pháp này đã được quy định rất rõ Điều 78 Luật thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 như sau:

“2. Việc trừ vào thu nhập của người phải thi hành án được thực hiện trong các trường hợp sau đây:

……….

c) Thi hành án cấp dưỡng, thi hành án theo định kỳ, khoản tiền phải thi hành án không lớn hoặc tài sản khác của người phải thi hành án không đủ để thi hành án.

3. Chấp hành viên ra quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án. Mức cao nhất được trừ vào tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động là 30% tổng số tiền được nhận hàng tháng, trừ trường hợp đương sự có thoả thuận khác. Đối với thu nhập khác thì mức khấu trừ căn cứ vào thu nhập thực tế của người phải thi hành án, nhưng phải đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người đó và người được nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật.

4. Cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động, Bảo hiểm xã hội nơi người phải thi hành án nhận tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp và các thu nhập hợp pháp khác có trách nhiệm thực hiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.”

Theo đó, khi thi hành bản án cấp dưỡng, người có nghĩa vụ có hành vi trốn tránh thực hiện thì khoản cấp dưỡng có thể được trừ vào thu nhập của người phải thi hành án. Chấp hành viên ra quyết định trừ vào thu nhập của người thi hành án. Mức cao nhất được trừ đó là 30% tổng số tiền được nhận hàng tháng, trừ trường hợp đương sự có thoả thuận khác. Đối với thu nhập khác thì mức khấu trừ căn cứ vào thu nhập thực tế của người phải thi hành án, nhưng phải đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người đó và người được nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật.

Để đảm bảo cho việc áp dụng biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án đạt hiệu quả, tại khoản 4 điều luật này cũng quy định rõ cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động, Bảo hiểm xã hội nơi người phải thi hành án nhận tiền lương, tiền công…có trách nhiệm thực hiện việc trừ vào thu nhập.

Tác giả cho rằng, biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án được ghi nhận trong Luật THADS là điều hợp lý. Quy định như vậy là phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan thi hành án và điều này khắc phục được sự chồng chéo quy định về cùng một vấn đề trong hệ thống pháp luật nước ta.

Nhưng để thực hiện có hiệu quả vấn biện pháp này là rất khó. Không phải cơ quan, tổ chức nào cũng có thiện chí hợp tác trong việc khấu trừ các khoản thu nhập hợp pháp của người có nghĩa vụ cấp dưỡng. Thường thì cán bộ cơ quan thi hành án dân sự phải đi lại rất nhiều lần, phải xuất trình các giấy tờ, thủ tục có liên quan... Hay trường hợp doanh nghiệp người đó làm việc bị giải thể, phá sản thì việc khấu trừ tiền cấp dưỡng vào lương là rất khó thực hiện.

Ba là, biện pháp xử phạt vi phạm hành chính:

Bên cạnh các biện pháp yêu cầu hay cưỡng chế đã trình bày trên đây, để đảm bảo nghĩa vụ cấp dưỡng cho con nói riêng và nghĩa vụ cấp dưỡng nói chung được được thực hiện một các hiệu quả, pháp luật hiện hành còn quy định hai chế tài được áp dụng để xử lý hành vi trốn tránh thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng đó là: chế tài xử phạt vi phạm hành chính và chế tài xử lý hình sự.

Về chế tài xử phạt hành chính, theo quy định tại khoản 2 Điều 54 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình (Nghị định số 167/2013/NĐ-CP) quy định xử phạt hành vi này như sau:

>> Xem thêm:  Ly thân là gì ? Quy định pháp luật về ly thân ?

“Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng chăm sóc con sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật”.

Bốn là, chế tài xử lý hình sự:

Với mục đích xử lý hành vi trốn tránh, không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, bên cạnh những quy định về xử lý hành chính, chế tài xử lý hình sự đã được quy định cụ thể tại Điều 186 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi năm 2017: “Người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đối với người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật mà từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này mà còn vi phạm, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 380 của Bộ luật này, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.”

Theo đó, để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người trốn tránh thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cần đáp ứng những dấu hiệu sau:

- Người phạm tội là người có nghĩa vụ cấp dưỡng

- Người phạm tội phải có khả năng thực tế để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, khả năng thực tế được hiểu là khả năng về kinh tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng như tiền, tài sản hoặc thu nhập có khả năng bảo đảm cuộc sống của gia đình với mức sống trung bình ở địa phương.

- Người phạm tội có hành vi cố ý từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng của mình. Tuy nhiên, hành vi này phải thoả mãn một trong hai dấu hiệu đó là “gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm”.

Như vậy, với mục đích nâng cao hiệu quả thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn các nhà làm luật cũng đã quy định khá đầy đủ các biện pháp thúc đẩy cũng như các chế tài răn đe.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tư vấn giành quyền nuôi con dưới 03 tuổi cho người chồng khi ly hôn?

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập

>> Xem thêm:  Thủ tục ly hôn thuận tình, ly hôn đơn phương như thế nào ?

Câu hỏi thường gặp về cấp dưỡng cho con khi ly hôn

Câu hỏi: Người trốn tránh thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con bị phạt bao nhiêu tiền?

Trả lời:

Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 54 Nghị định 167/2013/NĐ-CP: “Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng chăm sóc con sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật”.

Câu hỏi: Để có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng?

Trả lời:

Căn cứ quy định tại Điều 186 BLHS năm 2015 sửa đổi năm 2017, theo đó, để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người trốn tránh thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cần đáp ứng những dấu hiệu sau:

- Người phạm tội là người có nghĩa vụ cấp dưỡng

- Người phạm tội phải có khả năng thực tế để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, khả năng thực tế được hiểu là khả năng về kinh tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng như tiền, tài sản hoặc thu nhập có khả năng bảo đảm cuộc sống của gia đình với mức sống trung bình ở địa phương.

- Người phạm tội có hành vi cố ý từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng của mình. Tuy nhiên, hành vi này phải thoả mãn một trong hai dấu hiệu đó là “gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm”.

Câu hỏi: Khung hình phạt cao nhất đối với tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng là gì?

Trả lời:

Căn cứ quy định tại Điều 186 BLHS hiện hành thì khung hình phạt cao nhất về tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng là phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.