1. Quy tắc chung về xuất xứ
Xét trên quan điểm thương mại hay kinh doanh, các quy tắc xuất xứ được sử dụng để xác định nguồn gốc xuất xứ của một sản phẩm. Do các quy tắc xuất xứ được hiểu là nhằm phục vụ các mục đích khác nhau, nên hiểu có thể có sự khác biệt giữa các quy tắc chung và riêng về xuất xứ.
Các quy tắc chung về xuất xứ chủ yếu phục vụ việc nêu ra nguồn gốc xuất xứ quốc gia của một sản phẩm. Các quy tắc này xác định các sản phẩm nhằm mục đích thống kê thương mại hoặc để thực hiện những hạn chế về lượng hàng hóa xuất khẩu hoặc nhập khẩu. Theo ngôn ngữ thông thương, xuất xứ quốc gia tương đương như “made in” (sản xuất tại). Các quy tắc chung về xuất xứ thường đơn giản và bao gồm một số ít điều khoản chi tiết. Đã có nhiều nỗ lực một công trình rộng lớn đang được tiến hành để kiến tạo cấc quy tắc chung về xuất xứ được nhất trí trên phạm vi quốc tế, song cho tới nay vẫn chưa có các quy tắc nào được chấp nhận chung.
Ví dụ, một cái áo sơ mi được xem là “ sản xuất tại Thụy Sỹ” nếu công đoạn đáng kể cuối cùng trong quá trình sản xuất, tức là quá trình may, được thực hiện tại nước đó. Quá trình chế tạo này đã chuyên vải thành một thành phẩm và chiếc sơ mi này trở thành sản phẩm của “Thụy Sỹ” ngay cả khi nguyên liệu vải được nhập khẩu.
Đôi khi, đặc biệt trong các trường hợp khi giá trị của nguyên liệu chiếm một phần lớn trong giá thành sản phẩm, thì sự kết họp công đoạn chế tạo đáng kể cuối cùng và quy tắc về tỉ lệ phần trăm có thể được áp dụng.
Ví dụ, một chiếc máy có thể coi là đạt tiêu chuẩn xuất xứ quốc gia nếu được lắp ráp từ các linh kiện nhập khẩu miễn là giá trị các nguyên liệu, linh kiện hay phụ tùng nhập khẩu không vượt quá 50% giấ trị thành phẩm. Tuy nhiên, yêu cầu cơ bản về việc chế tạo một chiếc máy hoàn chỉnh từ các phụ tùng hay linh kiện cần phải được thực hiện đầy đủ.
Các quy tắc chung về xuất xứ chủ yếu phục vụ việc nêu ra nguồn gốc xuất xứ quốc gia của một sản phẩm. Các quy tắc này xác định các sản phẩm nhằm mục đích thống kê thương mại hoặc để thực hiện những hạn chế về lượng hàng hóa xuất khẩu hoặc nhập khẩu. Theo ngôn ngữ thông thương, xuất xứ quốc gia tương đương như “made in” (sản xuất tại). Các quy tắc chung về xuất xứ thường đơn giản và bao gồm một số ít điều khoản chi tiết. Đã có nhiều nỗ lực một công trình rộng lớn đang được tiến hành để kiến tạo các quy tắc chung về xuất xứ được nhất trí trên phạm vi quốc tế, song cho tới nay vẫn chưa có các quy tắc nào được chấp nhận chung.
Ví dụ, một cái áo khoác được xem là “ sản xuất tại Thụy Sỹ” nếu công đoạn đáng kể cuối cùng trong quá trình sản xuất, tức là quá trình may, được thực hiện tại nước đó. Quá trình chế tạo này đã chuyên vải thành một thành phẩm và chiếc áo khoác này trở thành sản phẩm của “Thụy Sỹ” ngay cả khi nguyên liệu vải được nhập khẩu.
2. Quy tắc riêng về xuất xứ
Các quy tắc riêng về xuất xứ được sử dụng để xác định xuất xứ của một sản phẩm để hưởng quy chế ưu đãi thuế quan theo một hiệp định thương mại tự do hay bất kỳ một thỏa thuận ưu đãi nào khác.
Đối với các quy tắc này được soạn thảo để phản ánh những nhân nhượng cụ thể được nêu trong một hiệp định thương mại tự do và do đó là “hoàn toàn phù hợp”. Bởi vậy, các quy tắc riêng về xuất xứ thường rất chi tiết, với những yêu cầu cụ thể dưới dạng các quy định về việc gia công đối với từng loại sản phẩm hoặc với các quy tắc về tỷ lệ phần trăm giới hạn việc sử dụng các vật liệu hay linh kiện “ không có nguồn gốc xuất xứ”. Trong trường hợp này, quan niệm chung về “sản xuất tại” chưa đủ để xác định tình trạng xuất xứ của một sản phẩm. Các quy tắc riêng về xuất xứ là những thành tố then chốt trong tất cả các quan hệ thương mại tự do.
Các quy tắc riêng về xuất xứ được sử dụng để xác định xuất xứ của một sản phẩm để hưởng quy ché ưu đãi thuế quan theo một hiệp định thương mại tự do hay bất kỳ một thỏa thuận ưu đãi nào khác. Các quy tắc này được soạn thảo để phản ánh những nhân nhượng cụ thể được nêu trong một hiệp định thương mại tự do và do đó là “hoàn toàn phù họp”.
Bởi vậy, các quy tắc riêng về xuất xứ thường rất chi tiết, với những yêu cầu cụ thể dưới dạng các quy định về việc gia công đối với từng loại sản phẩm hoặc với các quy tắc về tỷ lệ phần trăm giới hạn việc sử dụng các vật liệu hay linh kiện “ không có nguồn gốc xuất xứ”. Trong trường hợp này, quan niệm chung về “sản xuất tại” chưa đủ để xác định tình trạng xuất xứ của một sản phẩm. Các quy tắc riêng về xuất xứ là những thành tố then chốt trong tất cả cấc quan hệ thưcmg mại tự do.
3. Khái niệm quy tắc xuất xứ
Các "quy tắc xuất xứ" là các tiêu chí được áp dụng để xác định nơi mà sản phẩm được sản xuất. Các quy tắc này là yếu tố cơ bản đối với các luật lệ thương mại bởi vì có một số biện pháp dẫn đến sự phân biệt đối xử giữu các nước xuất khẩu: hạn ngạch, thuế quan, ưu đãi, biện pháp chống bán phá giá, thuế đối kháng,.. Các quy tắc xuất xứ cũng được dùng để thống kê thương mại và tạo các nhãn, mác (sản xuất tại...) dán trên sản phẩm.
Các khu vực thương mại tự do được kỳ vọng sẽ thúc đẩy tự do hóa thương mại bằng cách cắt giảm thuế đối với những mặt hàng xuất xứ từ các nước thành viên. Tuy nhiên tự do hóa không diễn ra tự động vì việc cắt giảm thuế còn phụ thuộc vào việc đáp ứng các quy tắc xuất xứ. Quy tắc xuất xứ (ROO) áp dụng cho hàng nhập khẩu nhằm các mục đích sau:
- Xác định hàng hoá nhập khẩu thuộc diện được hưởng ưu đãi thương mại (như ưu đãi thuế quan, các biện pháp phi thuế quan…);
- Để thực thi các biện pháp hoặc công cụ thương mại, như thuế chống bán phá giá, thuế đối kháng, biện pháp tự vệ… (đối với hàng hoá có xuất xứ từ một số nước nhất định là đối tượng của các biện pháp và công cụ thương mại này);
- Để phục vụ công tác thống kê thương mại (như xác định lượng nhập khẩu và trị giá nhập khẩu từ từng nguồn khác nhau);
- Để phục vụ việc thực thi các quy định pháp luật về nhãn và ghi nhãn hàng hoá;
- Để phục vụ các hoạt động mua sắm của chính phủ theo quy định của pháp luật quốc gia đó và pháp luật quốc tế.
4. Thông tư số 03/2019/TT-BCT quy định Quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định CPTPP
Với tinh thần khẩn trương xây dựng văn bản nội luật hóa nhằm thực hiện các cam kết tại Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 03/2019/TT-BCT ngày 22 tháng 01 năm 2019 quy định Quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).
Thông tư số 03/2019/TT-BCT quy định Quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định CPTPP gồm 5 Chương, 33 Điều và 9 Phụ lục kèm theo, cụ thể đó là:
– Chương I: Quy định chung
– Chương II: Quy tắc chung về xuất xứ hàng hóa
– Chương III: Quy trình chứng nhận và kiểm tra xuất xứ hàng hóa
– Chương IV: Quy định riêng đối với hàng dệt may
– Chương V: Điều khoản thi hành.
5. Điểm mới của Quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định CPTPP
So với các FTA Việt Nam đã ký kết và tham gia, Quy tắc xuất xứ hàng hóa Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) có một số điểm mới sau:
– Quy tắc xuất xứ bộ hàng hóa;
– Quy tắc xuất xứ hàng tân trang, tái chế tạo;
– Công thức tính RVC: ngoài công thức tính RVC gián tiếp và RVC trực tiếp, có thêm công thức tính RVC theo trị giá tập trung và công thức tính RVC theo chi phí tịnh (chỉ áp dụng với ô tô và phụ tùng ô tô);
– Danh mục PSR được quy định chi tiết theo công đoạn sản xuất cụ thể. Do đặc thù cấu trúc danh mục PSR thuộc Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Thông tư gồm 3 danh mục PSR: danh mục PSR đối với mặt hàng dệt may, danh mục PSR đối với xe và các bộ phận, phụ kiện và danh mục PSR đối với các mặt hàng còn lại.
De Minimis trong Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) quy định tỷ lệ “linh hoạt” cho phép nguyên liệu không có xuất xứ không đáp ứng quy tắc “Chuyển đổi mã số hàng hóa” ở mức tối đa 10% so với trị giá của hàng hóa. Riêng đối với hàng dệt may, tỷ lệ “linh hoạt” này ở mức tối đa 10% trọng lượng của hàng hóa hoặc 10% trọng lượng của loại sợi hoặc vải quyết định phân loại mã số hàng hóa.
Mẫu C/O mẫu CPTPP cấp cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam bao gồm các thông tin tối thiểu theo quy định tại Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) cũng được ban hành kèm theo Thông tư.
Về cơ chế chứng nhận xuất xứ hàng hóa, hàng xuất khẩu từ Việt Nam áp dụng cơ chế C/O do cơ quan, tổ chức được Bộ Công Thương ủy quyền cấp. Thời gian chuyển tiếp thực hiện cơ chế nhà xuất khẩu đủ điều kiện tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa được thực hiện từ 5 đến 10 năm theo hướng dẫn của Bộ Công Thương. Cơ chế nhà nhập khẩu Việt Nam tự chứng nhận xuất xứ thực hiện sau 5 năm kể từ ngày Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) có hiệu lực.
Quy trình chứng nhận và kiểm tra xuất xứ hàng hóa của Việt Nam thực hiện theo quy định tại Nghị định số 31/2018/NĐ-CP ngày 08 tháng 3 năm 2018 và các quy định khác có liên quan.
Thông tư số 03/2019/TT-BCT ngày 22 tháng 01 năm 2019 của Bộ Công Thương có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 03 năm 2019.
Đối với hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu trước ngày Thông tư này có hiệu lực, cơ quan, tổ chức cấp C/O xem xét cấp C/O mẫu Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) để được hưởng ưu đãi thuế quan theo quy định của Hiệp định và theo quy định của Nước thành viên nhập khẩu.
Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng!
Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập).