1. ​ Cấp chứng nhận xuât xứ

C/O là chữ viết tắt của Certificate of Origin. C/O là giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa do cơ quan có thẩm quyền hay đại diện có thẩm quyền tại nước xuất khẩu cấp để chứng nhận xuất xứ của sản phẩm nước đó theo các quy tắc xuất xứ. C/O phải tuân thủ theo quy định của nước xuất khẩu và cả nước nhập khẩu theo quy tắc xuất xứ.

Mục đích của C/O là chứng minh hàng hóa có xuất xứ rõ ràng, hợp pháp về thuế quan và các quy định khác của pháp luật về Xuất nhập khẩu của cả hai nước: Nhập khẩu và xuất khẩu (hiểu nôm na rằng là đó không phải hàng lậu hay hàng trôi nổi không có nhà sản xuất rõ ràng).

Để được hưởng ưu đãi thuế quan theo Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN (ATIGA), nhà xuất khẩu ở một nước ASEAN phải xin Chứng nhận xuất xứ form D tại một cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu. Tuy nhiên, hiện tại các nước ASEAN đang hướng tới việc áp dụng cơ chế TCNXX, cho phép nhà xuất khẩu được TCNXX mà không cần phải thông qua một cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu.

2. Cơ chế tự chứng nhận xuất xứ trong ASEAN

Thông tư 19/2020/TT-BCT sửa đổi, bổ sung các Thông tư quy định thực hiện Quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) chính thức có hiệu lực vào ngày 27/9/2020 có nhiều điểm mới về vấn đề thương nhân TCNXX hàng hóa trong Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN.

Quy định này áp dụng đối với thương nhân xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa theo Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN với thương nhân các nước thành viên khác thực hiện cơ chế thí điểm và thương nhân xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa theo Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN với thương nhân các nước thành viên ASEAN thực hiện cơ chế AWSC.

Có thể hiểu, tự CNXX hàng hóa được hiểu là trách nhiệm chứng nhận nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa (C/O) sẽ chuyển từ các cơ quan chuyên trách, cơ quan quản lý sang DN hoặc nhà NK. Điều đó có nghĩa là DN hoặc nhà NK sẽ tự thực hiện các thủ tục và đáp ứng điều kiện để tuyên bố hàng hóa đáp ứng các tiêu chuẩn về nguồn gốc xuất xứ và tự chịu trách nhiệm về tính chính xác của tuyên bố đó thay vì xin cấp CNXX từ phía cơ quan quản lý như trước đây. Hiện DN Việt Nam đang có ba “cửa ngõ” để tiếp cận hình thức tự CNXX. Nói một cách đơn giản là DN tự đứng ra xác nhận xuất xứ mà không phải đến bất kỳ cơ quan nào để xác nhận.

Hàng hóa chỉ được hưởng ưu đãi thuế quan theo ATIGA nếu có xuất xứ từ khu vực ASEAN. Một hàng hóa được coi là có xuất xứ ASEAN nếu:

1) Hàng hóa có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ trong khu vực ASEAN, hoặc

2) Hàng hóa đáp ứng được các yêu cầu cụ thể về quy tắc xuất xứ trong Hiệp định (Phụ lục 3 – Quy tắc xuất xứ cụ thể mặt hàng). Có ba loại quy tắc xuất xứ cụ thể mặt hàng:

+ Hàng hóa phải có hàm lượng nguyên liệu nội khối (RVC) ít nhất là 40%, hoặc

+ Hàng hóa phải trải qua chuyển đổi HS 4 số, hoặc Hàng hóa phải trải qua một quy trình sản xuất nhất định. Các quy tắc này được áp dụng riêng hoặc kết hợp. Đa số các sản phẩm có quy tắc xuất xứ kết hợp, cho phép áp dụng đồng thời cả RVC và Chuyển đổi HS/Quy trình sản xuất.

Tự chứng nhận xuất xứ là việc nhà sản xuất, nhà XK hoặc nhà NK hàng hóa tự khai báo xuất xứ của hàng hóa xuất khẩu/nhập khẩu trên hóa đơn thương mại hoặc bất kỳ chứng từ thương mại nào khác thay cho giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa do tổ chức được chính phủ của nước xuất khẩu ủy quyền cấp.

Cơ chế tự chứng nhận xuất xứ có những đặc điểm cơ bản sau:

Một là; chuyển trách nhiệm xác định xuất xứ từ cơ quan có thẩm quyền sang doanh nghiệp.

Hai là, giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) được thay thế bởi chứng từ xuất xứ cụ thể (self certified ROO documents).

Theo lộ trình của ASEAN, cơ chế tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa dự kiến sẽ được áp dụng song song với hệ thống thông thường như hiện nay.

ASEAN hiện đang thực hiện 02 dự án thí điểm tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa trong khuôn khổ Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA). Việt Nam tham gia dự án thí điểm số 2. Điểm khác biệt cơ bản trong 02 dự án này là lựa chọn Nhà xuất khẩu đủ điều kiện được xem xét, cho phép tự chứng nhận xuất xứ. Cụ thể:

– Dự án thí điểm số 1:Kí ngày 30/8/2010 bởi ba nước Brunei, Malaysia và Singapore, bắt đầu thực hiện từ ngày 1/11/2010. Thái Lan tham gia vào tháng 10/2011. Cho phép các Nhà xuất khẩu (gồm các công ty thương mại và Nhà sản xuất) đủ điều kiện được xem xét, cho phép tự chứng nhận xuất xứ; cho phép TCNXX trên bất kỳ chứng từ thương mại nào, bao gồm hóa đơn, vận đơn, phiếu đóng gói.

– Dự án thí điểm số 2: Kí ngày 29/8/2012 bởi ba nước Lào, Indonesia và Philippines, bắt đầu thực hiện từ ngày 1/1/2014. Việt Nam tham gia vào tháng 9/2014. Chỉ cho phép các Nhà xuất khẩu đồng thời là Nhà sản xuất đủ điều kiện được xem xét, cho phép tự chứng nhận xuất xứ cho hàng hóa do chính họ sản xuất ra; cho phép TCNXX trên hóa đơn thương mại gốc của hàng hóa.

Các điều kiện khác để được xét là Nhà xuất khẩu đủ điều kiện tự chứng nhận xuất xứ do các Nước thành viên ASEAN quy định theo nội luật của từng nước, thiếu tính tương đồng, không thống nhất. Để thực hiện tốt tự chứng nhận xuất xứ, các nước ASEAN phát triển hơn, như Thái Lan có cơ chế quản lý rủi ro hiệu quả và chế tài xử phạt rất nặng đối với các hành vi gian lận thương mại nói chung và trong lĩnh vực xuất xứ hàng hóa nói chung. Thái Lan đồng thời tham gia cả 2 Dự án thí điểm số 1 và số 2.

Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp trong khối, nhất là doanh nghiệp Việt Nam chưa mặn mà với cơ chế tự chứng nhận xuất xứ do Hải quan các nước nhập khẩu thường đặt nhiều nghi vấn đối với các lô hàng tự chứng nhận xuất xứ hơn hẳn so với các lô hàng được cấp C/O truyền thống. Ví dụ: thời gian đầu thực hiện thí điểm tự chứng nhận xuất xứ, Hải quan Thái Lan tiến hành xác minh với toàn bộ các lô hàng nhập khẩu sử dụng hóa đơn tự chứng nhận xuất xứ.

3. Hệ thống tự chứng nhận xuất xứ hiện tại của Việt Nam

Cơ chế truyền thống yêu cầu Bộ Công Thương phải phát hành chứng nhận xuất xứ khi nhà xuất khẩu đăng ký (Xem Phụ lục A). Với Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), ASEAN đã nhận ra vai trò quan trọng của quy tắc xuất xứ trong việc biến mong muốn hàng hóa được lưu thông tự do trong khu vực thành hiện thực. Để đạt được điều này, ASEAN thống nhất đặt ra các quy tắc xuất xứ đáp ứng được các thay đổi liên tục trong quy trình sản xuất toàn cầu, nhằm: thuận lợi hóa thương mại và đầu tư trong khu vực; xúc tiến mạng lưới sản xuất khu vực và khuyến khích phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhận ra nhu cầu cần hợp lý hóa quy tắc xuất xứ để tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại hàng hóa xuất xứ ASEAN, Hội đồng AFTA lần thứ 23 tại Bangkok vào tháng 8 năm 2009 đã thông qua “Kế hoạch làm việc hướng tới hiện thực hóa hoạt động tự chứng nhận xuất xứ”. Theo Kế hoạch làm việc này, tất cả các quốc gia thành viên sẽ thực thi cơ chế Tự chứng nhận xuất xứ ASEAN vào năm 2012. Ngày 1 tháng 11 năm 2012, ba quốc gia thành viên tham gia là Brunei, Malaysia và Singapore đã bắt đầu tiến hành một dự án thí điểm một năm nhằm khởi động Cơ chế tự chứng nhận xuất xứ ASEAN. Tháng 10 năm 2011, Thái Lan đã tham gia vào dự án này. Philippines, Indonesia và Lào đã ký Biên bản ghi nhớ nhằm thực thi dự án thí điểm tự chứng nhận xuất xứ lần 2 vào tháng 8 năm 2012 với một số sửa đổi so với dự án thí điểm ban đầu (ví dụ như hạn chế chỉ các “nhà sản xuất” có thể chỉ định tối đa ba chữ ký ủy quyền dành riêng cho các khai báo trên hóa đơn và chia sẻ tên của những người này cho Thư ký ASEAN). Việt Nam đã tham gia vào dự án thí điểm thứ hai và đã ban hành Thông tư 28/2015/TT-Bộ Công Thương ngày 20 tháng 8 năm 2015 để đáp ứng các yêu cầu của dự án này.

4. Những ưu điểm của hình thức tự chứng nhận xuất xứ:

Thực tiễn áp dụng tự chứng nhận xuất xứ ở các quốc gia trong những năm qua cho thấy cơ chế này cũng có những hạn chế nhất định, tuy nhiên chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy những lợi ích to lớn về kinh tế mà cơ chế tự chứng nhận xuất xứ mang lại trong bối cảnh hội nhập hiện nay.

Tự chứng nhận xuất xứ cho phép doanh nghiệp được quyền tự khai báo xuất xứ của hàng hóa trên hóa đơn thương mại hay bất kỳ chứng từ nào khác thay cho giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa do cơ quan Nhà nước cấp. Do vậy, doanh nghiệp sẽ tiết kiệm thời gian và chi phí, thúc đẩy thuận lợi hóa thương mại giữa các nước. Với cơ chế này, doanh nghiệp không phải đi xin xuất xứ cho từng lô hàng xuất khẩu, mà có thể sử dụng quyền tự chứng nhận xuất xứ của mình để chủ động áp dụng cho các lô hàng xuất khẩu trong một thời gian nhất định. Ngoài ra, khi doanh nghiệp được công nhận là thương nhân/doanh nghiệp tự chứng nhận xuất xứ thì thương hiệu và hàng hóa của doanh nghiệp sẽ trở nên có giá trị hơn trên thị trường, các cơ hội kinh doanh sẽ mở ra nhiều hơn cho doanh nghiệp.

5. Một số hạn chế của hình thức TCNXX so với cấp chứng nhận xuất xứ

Thứ nhấttiêu chí quy định chỉ có doanh nghiệp vừa sản xuất xuất khẩu mới được tham gia TCNXX hàng hóa cũng gây khó các doanh nghiệp nói chung, thu hẹp lượng doanh nghiệp khi loại trừ các doanh nghiệp thương mại, dịch vụ hoặc sản xuất quy mô nhỏ. Đối với dự án thứ 2, chỉ cho phép các Nhà xuất khẩu đồng thời là Nhà sản xuất đủ điều kiện được xem xét, cho phép TCNXX cho hàng hóa do chính họ sản xuất ra; cho phép TCNXX trên hóa đơn thương mại gốc của hàng hóa.

Thứ hai, cơ chế này vẫn có những rủi ro vì vẫn có khả năng gian lận thương mại xuất xứ hàng hóa, chuyển tải bất hợp pháp qua các quốc gia, mượn xuất xứ của quốc gia này để hưởng ưu đãi cũng như gian lận thương mại hàng nhập khẩu từ các nước khác vào quốc gia đó. Khi xảy ra trường hợp như vậy, uy tín doanh nghiệp bị ảnh hưởng, mất thị trường XK và bị truy cứu trách nhiệm tùy mức độ. Còn ở tầm vĩ mô, uy tín ngành hàng cũng bị soi xét trên thương trường quốc tế, mất khả năng cạnh tranh.

Thứ ba, cần lưu ý đối với các doanh nghiệp hiện nay là giấy chứng nhận doanh nghiệp đủ điều kiện xuất xứ hàng hóa có thể bị thu hồi bất cứ lúc nào nếu doanh nghiệp không thực hiện đúng quy định như: không đủ khả năng cung cấp sự đảm bảo về xuất xứ hàng hóa; lạm dụng sự ủy quyền tự cấp giấy chứng nhận; gian lận xuất xứ hàng hóa… Nếu vi phạm các quy định này, ngoài việc bị thu hồi giấy phép đủ điều kiện TCNXX, doanh nghiệp có thể bị phạt hành chính, thậm chí bị xử lý hình sự nếu nghiêm trọng.