Theo thống kê, trong số 40 quốc gia trên thế giới có một hoặc một số đạo luật trực tiếp quy định về hoạt động đầu tư (không kể Việt Nam), có 10 nước có đạo luật riêng chỉ áp dụng đối với hoạt động đầu tư nước ngoài, bao gồm: Afphanistan, Albania, Bhutan, Bosnia and Herzegovina, Hàn Quốc, Trung Quốc, Cộng hòa Iran và Marshall Islands, Pakistan, Thô Nhĩ Kỳ và Philippines.Tùy thuộc vào nhu cầu quản lý, trình độ lập pháp và hệ thống pháp luật, các nước trên thế giới có những hệ thống quy định khác nhau điều chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài. Theo thống kê, trong số 40 quốc gia trên thế giới có một hoặc một số đạo luật trực tiếp quy định về hoạt động đầu tư (không kể Việt Nam), có 10 nước có đạo luật riêng chỉ áp dụng đối với hoạt động đầu tư nước ngoài, bao gồm: Afphanistan, Albania, Bhutan, Bosnia and Herzegovina, Hàn Quốc, Trung Quốc, Cộng hòa Iran và Marshall Islands, Pakistan, Thổ Nhĩ Kỳ và Philippines.

1. Pháp luật Brazil

Về giới hạn sở hữu nước ngoài: Nhà đầu tư nước ngoài muốn đầu tư vào Brazil phải lựa chọn một cơ quan đại diện pháp lý và một tổ chức lưu ký. Một mã số giao dịch được cấp cho mỗi nhà đầu tư trước khi thực hiện giao dịch. Theo Chỉ thị số 461 của Ủy ban chứng khoán và giao dịch chứng khoản Brazil (CVM) thì: Một nhà đầu tư, một doanh nghiệp hoặc một nhóm nhà đầu tư đại diện của cùng một lợi ích chỉ có thể mua dưới mức 15% cổ phiếu có quyền biểu quyết của một doanh nghiệp. Việc nắm giữ bằng hoặc hơn 15% cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức này sẽ phải được phê chuẩn trước bởi CVM. Quy định này không áp dụng đối với các nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phiếu trong các doanh nghiệp niêm yết của Brazil. Tại Brazil, nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư vào tất cả các sản phẩm như đối với nhà đầu tư trong nước ngoại trừ các lĩnh vực như: Lĩnh vực vận tải hàng không và vận tải hàng hóa trên đường cao tốc, nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu 20% cổ phiếu phổ thông và không hạn chế tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu ưu đãi không có quyền biểu quyết. Đối với công ty dịch vụ cáp truyền hình: nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu 49% cổ phiếu phổ thông và không hạn chế tỷ lệ năm giữ cổ phiếu ưu đãi không có quyền biểu quyết. Với công ty truyền thông (Báo, phát hành, truyền hình), nhà đầu tư nước ngoài được nắm giữ lên tới 30% tính trên cả cổ phiếu phổ thông và cô phiếu ưu đãi không có quyển biểu quyết.

Đối với tổ chức tài chính: Giới hạn nắm giữ cổ phiếu phổ thông được áp dụng riêng cho từng ngân hàng và việc giao dịch cũng bị giới hạn theo tỷ lệ nắm giữ này. Không hạn chế tỷ lệ năm giữ cô phiếu ưu đãi không có quyền biểu quyết. Các lĩnh vực mà nhà đầu tư nước ngoài không được sở hữu cổ phần gồm vận chuyển đồ quý giá, dịch vụ xô số, tư vấn y tế, thăm dò và lọc dầu, năng lượng điện và thủy điện, hoạt động liên quan đến năng lượng hạt nhân. Các lĩnh vực phải nhận được sự chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền bao gồm: khai thác mỏ (phải có sự chấp thuận của Bộ Năng lượng và khai mỏ); nông nghiệp và khai thác rừng (phải có sự chấp thuận của Bộ Nông nghiệp; vận tải đường thủy, sông, hàng hải (phải nhận được sự chấp thuận của Bộ Vận tải; bảo hiểm (phải được sự chấp thuận bởi Cơ quan quản lý bảo hiểm).

Bên cạnh đó, Luật doanh nghiệp số 6404 ngày 15/12/1976 cũng có một số quy định liên quan như:

Theo Điều 4 của Luật này, một doanh nghiệp sẽ được chia thành công ty đại chúng hoặc một công ty đóng tùy thuộc vào loại chứng khoán nào của công ty được chấp thuận giao dịch trên thị trường chứng khoán. Khoản 1 Điều 4 của Luật này quy định chỉ những chứng khoán được phát hành bởi một doanh nghiệp đã đăng ký với Ủy ban chứng khoán Brazil thì có thể được giao dịch trên thị trường chứng khoán.

Theo Điều 15 của Luật này quy định một cô phiếu có thể là cổ phiêu phổ thông, cổ phiếu ưu đãi hoặc cổ phiếu chuyển đổi phụ thuộc vào thuộc tính quyền lợi thế mà nó trao cho cổ đông nắm giữ.

Theo Khoản 1 Điều 15 quy định cổ phiếu thường của một công ty đóng: cô phiếu ưu đãi của công ty đóng hay công ty đại chúng có thể là một hoặc một số loại sau: cổ phiếu ưu đãi không có quyền biểu quyết; hoặc cổ phiếu bị hạn chế quyền biểu quyết có thể vượt quá 50% tổng số cổ phiếu đã phát hành.

Điều 16 quy định: có sự khác biệt giữa các loại cổ phiếu thường của một công ty đóng, phụ thuộc: (i) Khả năng chuyển đổi của chúng thành cổ phiếu ưu đãi; (ii) yêu cầu rằng người nắm giữ các cổ phiếu này phải là người Brazil; (iii) quyền biểu quyết khác nhau đề bổ nhiệm một vị trí nhất định trong ban quản lý.

Như vậy, về cơ bản, Luật pháp của Brazil chia cổ phiếu thành nhiều loại khác nhau và có quyền biểu quyết hoặc không; Chia thành cổ đông kiểm soát hoặc không kiểm soát; Việc thực hiện quyền biểu phiếu phải thông qua tổ chức đại diện.

Pháp luật Brazil trong thu hút nhà đầu tư nước ngoài. Theo Luật doanh nghiệp Brazil, một công ty có thể phát hành cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi. Một công ty được quyền phát hành lên đến hai phần ba số vốn cổ phần của mình đối với cổ phiếu không có quyền biểu quyết, có nghĩa là công ty có thể được kiểm soát với một tổ chức chỉ năm 16,67%  số cổ phần có quyền biểu quyết. Tuy nhiên, giới hạn về việc phát hành cổ phiếu không có quyền biểu quyết đã được giảm đến 50% vốn cổ phần trong trường hợp của các công ty mới thành lập và các công ty phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng.

“Cổ đông ưu đãi” cũng có được một quyền tạm thời bỏ phiếu một cách bình đẳng với các cổ phiều có quyền biểu quyết, nêu công ty không phân phối cổ tức cố định hoặc tối thiểu (nếu có) trong ba năm tài chính liên tiếp. Kể từ khi cổ phiếu ưu đãi không được quyền bỏ phiếu (hoặc tồn tại như là cổ phiếu có quyền biểu quyết hạn chế), cổ đông ưu đãi không được hưởng quyền bán cổ phần của mình trong một đợt chào mua công khai, ngược lại, những người nắm giữ cổ phiếu có quyền biểu quyết có quyền được bán cổ phần ở mức 80% của giá phải trả cho các cổ đông kiểm soát.

2. Pháp luật Philippines

Về giới hạn sở hữu nước ngoài. Khái niệm “đầu tư nước ngoài” theo Luật đầu tư nước ngoài (RA 7042, năm 1991, được sửa đổi bởi RA 8179, năm 1996) là hoạt động đầu tư thực hiện bởi các chủ thê &hóng phải là công dân Philippines dưới hình thức chuyển ngoại hối và/hoặc các hình thức tài sản thực tế khác vào lãnh thổ Philippines.

Khái niệm “đầu tư”: là việc đưa tài sản vào thành lập mới doanh nghiệp hoặc các doanh nghiệp đang tồn tại theo quy định của các đạo luật của Philippines.

Luật đầu tư nước ngoài tự do hóa sự xâm nhập của đầu tư nước ngoài vào Philippines. Theo luật đầu tư nước ngoài (FIA), các nhà đầu tư nước ngoài cũng như các đối tác trong nước của họ phải đăng ký với Ủy ban Chứng khoán và Hồi đoái (SEC) hoặc với các Sở Thương mại và Cục Công nghiệp tại Quy chế Thương mại và Bảo vệ người tiêu dùng.

Tỷ lệ phần trăm của vốn chủ sở hữu nước ngoài được phép theo FIA: Với việc tự do của pháp luật về đầu tư nước ngoài, công ty 100% vốn nước ngoài có thể được cho phép trong tất cả các lĩnh vực đầu tư, ngoại trừ những lĩnh vực dành riêng cho người Philippines theo quy định của Hiến pháp Philippines và pháp luật hiện hành

Những doanh nghiệp với các hạn chế đầu tư nước ngoài: Theo Luật Đầu tư nước ngoài, có hai danh sách hạn chế, còn được gọi là "Danh sách hạn chế đầu tư nước ngoài", trong đó xác định các khoản đầu tư nước ngoài bị hạn chế bởi Hiến pháp và pháp luật.

Pháp luật Philippines về phát hành cổ phiếu không có quyền biểu quyết. Tại Điều 6, phần I của Luật doanh nghiệp Philippines quy định “Trường hợp điều lệ công ty có quy định đối với các cổ phiếu không có quyền biểu quyết mà Bộ luật này cho phép ”, những người nắm giữ cổ phần đó được quyền biểu quyết về các vấn đề như sửa đổi điều lệ công ty, việc thực hiện và sửa đổi bổ sung luật, bán, cho thuê, trao đổi, thế chấp, cầm có, chuyển nhượng tất cả hoặc đáng kể tài sản của công ty phát sinh, tạo ra hoặc làm tăng nợ; tăng, giảm vốn cổ phần; sáp nhập, hợp nhất của công ty với một công ty hoặc các công ty khác; đầu tư của các quỹ công ty trong một công ty khá hoặc kinh doanh khác theo quy định của Bộ luật này; giải thể công ty.

3. Pháp luật Thái Lan

Giới hạn sở hữu nước ngoài. Một số biện pháp thu hút đầu tư vào thị trường chứng khoán Thái Lan bao gồm: Thứ nhất là, khuyến khích bằng thuế: Giảm thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế lợi tức; Thứ hai là, khuyến khích không bằng thuế: Cho phép công dân nước ngoài vào Thái Lan để nghiên cứu cơ hội đầu tư; cho phép đưa vào Thái Lan những người lao động kỹ năng cao và chuyên gia để thực hiện việc xúc tiến đầu tư; cho phép sở hữu đất đai; cho phép mang lợi nhuận ra nước ngoài bằng ngoại tệ; và thứ ba là, biện pháp báo đảm đầu tư: Nhà nước sẽ không quốc hữu hóa các tài sản của Nhà đầu tư; không thực hiện những hoạt động cạnh tranh với các hoạt động của nhà đầu tư; Nhà nước sẽ không độc quyền bán các sản phẩm tương tự như sản phẩm của nhà đầu tư, không buộc nhà đầu tư phải điều chỉnh giá bán các sản phẩm của mình.

Luật doanh nghiệp nước ngoài của Thái Lan (1999) có hiệu lực từ 04/03/2000 có quy định rằng người nước ngoài được quy định trong Đạo luật, như là một cá nhân nước ngoài, một công ty nước ngoài, hoặc đa số vốn nước ngoài tại Công ty Thái Lan (từ 50% vốn trở lên) hoặc một công ty mà người quản lý đa số là người nước ngoài.

Pháp luật Thái Lan hạn chế sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài trong 43 ngành hoạt động kinh doanh, được phân thành ba nhóm. Các hạn chế quyền sở hữu khác nhau, tùy thuộc vào từng nhóm. Cụ thể như sau:

Danh mục 1 - Các doanh nghiệp mà người nước ngoài không được phép đầu tư: gồm 9 lĩnh vực như Báo chí và đài phát thanh, truyền hình; nông nghiệp vùng đồng bằng, canh tác nương rẫy, làm vườn; chăn nuôi; khai thác rừng và gỗ tự nhiên; đánh bắt thủy sản trong vùng biển và vùng đặc quyền kinh tế của Thái Lan; khai thác cây dược liệu Thái Lan; kinh doanh và đầu giá cổ vật Thái Lan hoặc cổ vật có giá trị lịch sử quốc gia; làm hoặc đúc tượng Phật và làm bát của nhà sư; kinh doanh nhà đất.

Danh mục 2 - Các doanh nghiệp liên quan đến an ninh quốc gia hoặc ảnh hưởng xấu đến nghệ thuật và văn hóa, phong tục, hoặc sản xuất nội địa/nghề thủ công mỹ nghệ, hoặc có ảnh hưởng đến tài nguyên thiên nhiên và môi trường: Sàn xuất, xử lý, bán hàng, và có liên quan đến vũ khí, đạn dược, thuốc súng và chất nổ, các thành phần của vũ khí, thuốc súng và chất nổ, vũ khí và tàu quân sự, máy bay, hoặc phương tiện vận chuyển, tất cả các loại thiết bị chiến tranh hoặc các thành phân của nó; vận tải nội địa bằng đường bộ, đường thủy, hoặc đường hàng không, bao gồm các cam kết của ngành hàng không nội địa; kinh doanh cổ vật, bảo vật nghệ thuật và tác phâm nghệ thuật, và sản phẩm thủ công mỹ nghệ Thái Lan; sản xuất chạm khắc gỗ; chăn nuôi tằm, sản xuất sợi và đệt lụa Thái, hoặc in hoa văn trên vải lụa Thái; sản xuất dụng cụ âm nhạc Thái; sản xuất hàng vàng hay bạc, đồ niken đồng, hoặc sản phẩm sơn mài; sản xuất đồ sành sứ và đất nung mà chúng là nghệ thuật hay thuộc văn hóa của Thái Lan; sản xuất đường từ mía; nông nghiệp, bao gồm muối, làm muối từ đất mặn; làm muối đá; khai thác khoáng sản, bao gồm cả dùng mìn nổ hoặc nghiền; sử dụng gỗ để làm đỏ nội thất và các sản phẩm gỗ.

Danh mục 3 - Các ngành mà doanh nghiệp Thái Lan chưa sẵn sàng để cạnh tranh với người nước ngoài gồm 20 lĩnh vực bao gồm: sản xuất gạo và sản xuất bột từ lúa và các cây trồng; thủy sản, hạn chế nhân giống các loài thủy sản; lâm nghiệp từ trồng rừng; sản xuất ván ép, gỗ ép; sản xuất vôi tự nhiên; dịch vụ kế toán; dịch vụ pháp lý; dịch vụ kiến trúc; dịch vụ kỹ thuật; xây dựng, trừ trường hợp cung cấp các dịch vụ xây dựng cơ bản, bao gồm cả các công trình công cộng và công trình đòi hỏi phải sử dụng các dụng cụ đặc biệt, máy móc, công nghệ và chuyên môn trong xây dựng và vốn tối thiểu của người nước ngoài ít nhất là 500 triệu baht; môi giới hoặc đại lý (ngoại trừ kinh doanh chứng khoán hoặc các dịch vụ liên quan đến kinh doanh mặt hàng nông sản trong tương lai, công cụ tài chính, chứng khoán; kinh doanh hoặc thu mua hàng hoá hoặc dịch vụ cần thiết cho sản xuất hoặc cung cấp các dịch vụ của doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp; kinh doanh, mua bán hoặc phân phối hoặc tìm kiếm thị trường trong nước hoặc ở nước ngoài để bán hàng hóa sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu như một doanh nghiệp thương mại quốc tế, với số vốn tối thiểu của người nước ngoài ít nhất là 100 triệu baht; bán đấu giá, trừ trường hợp đấu thầu quốc tế mà không phải đấu thầu đồ cổ, cổ vật hoặc đối tượng là những tác phẩm nghệ thuật của Thái Lan, đồ thủ công mỹ nghệ hoặc đồ cổ, hoặc đồ có giá trị lịch sử quốc gia và các loại đấu giá theo quy định tại Quy định của Bộ trưởng; thương mại trong nước liên quan đến sản phẩm nông nghiệp bản địa hoặc các sản phâm khác không bị cắm bởi luật pháp hiện hành; thương mại bán lẻ trong các loại hàng hóa với số vốn tối thiểu tổng hợp dưới 100 triệu baht hoặc một vốn tối thiểu cho mỗi cửa hàng dưới 20 triệu baht; bán buôn tất cả các loại hàng hóa với số vốn tối thiểu cho mỗi cửa hàng nhỏ hơn 100 triệu baht; quảng cáo; khách sạn, trừ các dịch vụ quản lý khách sạn; du lịch; bán thực phẩm hoặc đồ uống; giống cây trồng và nhân giống, hoặc cam kết cải tiền cây trồng.

Ngoài ra, có một số lưu ý đối với nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào Thái Lan như một người nước ngoài phải đầu tư ít nhất hai hoặc ba triệu baht trong kinh doanh của mình, tùy thuộc vào loại hình kinh doanh, tuy nhiên yêu cầu vốn tối thiểu sẽ không áp dụng khi tái đầu tư. Vốn tối thiểu được quy định là vốn của các tổ chức nước ngoài trong trường hợp một người nước ngoài là một pháp nhân được thành lập ở Thái Lan hoặc không được thành lập ở Thái Lan, bằng ngoại tệ mà người nước ngoài nộp vào Thái Lan tại thời điểm bắt đầu để kinh doanh ở Thái Lan. Số vốn tối thiểu và thời hạn đưa vốn vào Thái Lan được quy định theo Quy chế của Bộ trưởng.  

4. Pháp luật Malaysia

Malaysia không có đạo luật riêng về đầu tư nước ngoài. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được điều chỉnh bởi các đạo luật về doanh nghiệp và đăng ký doanh nghiệp chung với các doanh nghiệp trong nước.

Tại Malaysia, việc khuyến khích đầu tư tập trung vào khuyến khích đầu tư bằng thuế, cả trực tiếp và gián tiếp. Ưu đãi thuế trực tiếp được thực hiện bằng việc giảm một phần hoặc toàn bộ thuế thu nhập doanh nghiệp trong một thời hạn nhất định, trong khi đó ưu đãi thuế gián tiếp thực hiện thông qua việc miễn nghĩa vụ thuế nhập khẩu, thuế bán hàng hoặc thuế tiêu thụ nội địa.

Nhìn chung, sở hữu nước ngoài trong một công ty tại Malaysia bị giới hạn là 30% và được liệt kê trong danh sách M&A (hợp nhất, sáp nhập) hoặc được quy định trong văn bản hướng dẫn của Bộ. Tỷ lệ 30% có thể vượt quá trong một số trường hợp, cụ thể trong các công ty mà hoạt động sản xuất chính là hàng hóa để xuất khẩu; giới hạn sở hữu của bên nước ngoài trong công ty truyền thông tăng từ 49% lên 61%; trong ngân hàng đầu tư, các ngân hàng trong nước của người hồi giáo, công ty bảo hiểm là 70%...

Hướng dẫn của Ủy ban đầu tư nước ngoải (FIC-Foreign Investment Committee) về mua bán tài sản có yếu tố nước ngoài năm 2012 tại Malaysia có quy định:

Nhà đầu tư nước ngoài - Bên nước ngoài có nghĩa là bất cứ nhà đầu tư nào, nhóm nhà đầu tư, hoặc các bên có liên quan tới cá nhân không phải là người Malaysia; các công ty hoạt động ở nước ngoài; các công ty hoạt động ở Malaysia nhưng sở hữu trên 50% giá trị tài sản của hai đối tượng trên (cá nhân không phải người Malaysia hoặc các công ty hoạt động ở nước ngoài).

Nhà đầu tư: có nghĩa là người năm giữ quyền biểu quyết, vốn cổ phần hoặc bất cứ quyền nào khác trong một công ty.

Các hạn chế đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài:

Thứ nhất, bên nước ngoài không được phép mua bán các tài sản có chí phí thấp và trung bình thấp; các tài sản được xây dựng trên phần đất bảo tồn của Malaysia; các tài sản được phân chia cho người Bumiputera (gồm người Peninsular, Sarawak, Sabah tại Malaysia) theo bất kỳ hình thức sở hữu nào; các xưởng dịch vụ và bán hàng và đất nông nghiệp được phát triển trên cơ sở các ấp, trại.

Thứ hai, đối với tài sản sử dụng để định cư/cư trú: Bên nước ngoài được phép mua các tài sản sử dụng đề ở có giá trị trên 250.000 RM cho mỗi loại tài sản mà không cần xin chấp thuận bởi FIC. Sẽ không có hạn chế vẻ số lượng các tải sản được mua và hạn chế sử dụng. Ngoại trừ: Nhà ở của người Permanent được phép mua với giá trị lớn hơn 100.000 RM; Các xí nghiệp sản xuất trong nước thuộc sở hữu của bên nước ngoài có thể mua các tài sản trên 60.000 RM với điều kiện chúng được sử dụng đề cho người lao động định cư sinh sống.

Tóm lại, tại thị trường Malaysia, giới hạn sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài đối với các ngành kinh tế giữ vị trí quan trọng chiến lược như môi giới, bảo hiểm, truyền thông là từ 30°o-70°o. Các giới hạn này có ảnh hưởng trên 11°o thị trường cỗ phiếu của Malaysia.

Những nhà đầu tư nước ngoài năm giữ cổ phiếu mà vượt quá tỷ lệ sở hữu đối với nhà đầu tư nước ngoài sẽ không được đối xử ngang bằng về quyền biểu quyết so với các nhà đầu tư trong nước nắm giữ cùng cổ phiếu đó của cùng một công ty.

5. Pháp luật Hàn Quốc

Theo quy định của pháp luật Hàn Quốc, một số ngành nghề cụ thể có mức sở hữu nước ngoài được quy định cụ thể, song mức này cũng thường là 49%. Việc phát hành cổ phiếu không có quyền biểu quyết chưa được đặt ra. Tuy nhiên, tại Luật thị trường tài chính và các dịch vụ đầu tư tài chính có quy định chế tài đối với việc Vượt room nước ngoài.

Cụ thể, Điều 168 Luật thị trường tài chính và các dịch vụ đầu tư tài chính quy định Hạn chế vẻ giao dịch chứng khoán và chứng khoán phái sinh hoán đôi danh mục của Nhà đầu tư nước ngoài như sau: (i) liên quan tới các giao dịch chứng khoán hoặc chứng khoán phải sinh hoán đổi danh mục, nhà đầu tư nước ngoài, các công ty nước ngoài... sẽ bị hạn chế trong việc mua bán theo các hướng dẫn trong Nghị định hướng dẫn; (ii) liên quan tới việc mua chứng khoán của Công ty có mục đích công cộng của nhà đầu tư nước ngoài, công ty nước ngoài, ngoài những quy định tại (1) sẽ có những hạn chế riêng được áp dụng trong Điều lệ của công ty có mục đích công cộng; (iii) không ai được mua cổ phiếu trái với quy định tại (i) và (ii), nếu không sẽ không được thực hiện quyền biểu quyết cho các có phiếu trên và Ủy ban Dịch vụ tài chính (FSC) sẽ yêu cầu người đã thực hiện giao dịch chứng khoán và chứng khoán phái sinh trái với quy định tại (i) và (ii) phải thực hiện các biện pháp khắc phục trong vòng một khoảng thời gian nhất định, nhưng không quá 6 tháng.