Thưa luật sư, theo tôi được biết khi giao dịch với ngân hàng luôn phải xuất trình giấy tờ như chứng minh nhân dân hay căn cước công dân và đảm bảo chữ ký thống nhất giữa các lần giao dịch. Vậy luật sư cho hỏi pháp luật quy định như thế nào về giấy tờ tùy thân này? Và khi phía ngân hàng có những thông tin khách hàng thì có quy định hạn chế về công khai hay không?

(Người hỏi: Lý Gia - Hải Phòng)

 

Luật sư tư vấn:

1. Giấy tờ tùy thân trong giao dịch ngân hàng

Khách hàng khi tham gia mọi giao dịch với ngân hàng yếu tố không thể thiếu đó chính là xuất trình giấy tờ tùy thân. Đó chính là bằng chứng pháp lý để nhận diện chính xác về một cá nhân. Hoạt động ngân hàng luôn đòi hỏi phải chính xác và an toàn. Bởi vậy, pháp luật quy định về giấy tờ tùy thân giao dịch của khách hàng ngân hàng rất chặt chẽ.

 

1.1. Các loại giấy tờ tùy thân

Giấy tờ tùy thân có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi con người, là bằng chứng pháp lý để phân biệt người này với người khác, là yếu tố bắt buộc trong nhiều giao dịch. Giấy tờ tùy thân gồm 3 loại phổ biến nhất là:

+ Chứng minh nhân dân

+ Căn cước công dân

+ Hộ chiếu

Pháp luật đã quy định: “Công dân được sử dụng chứng minh nhân dân của mình làm chứng nhận nhân thân và phải mang theo khi đi lại, giao dịch”( Khoản 1 Điều 7 Nghị định số 05/1999/NĐ-CP).

Căn cước công dân là thông tin cơ bản về lai lịch, nhân dạng của công dân (Khoản 1 Điều 3 Luật căn cước công dân năm 2014)

Hộ chiếu thì có hai loại của Việt Nam và nước ngoài. Công dân Việt Nam được cấp hộ chiếu quốc gia để xuất cảnh, nhập cảnh. Hộ chiếu của nước ngoài hoặc Liên hợp quốc cấp là giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài, để nhập cảnh, xuất cảnh tại Việt Nam (khoản 2 Điều 3 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014)

 

1.2. Quy định về giấy tờ tùy thân khi giao dịch

Để bảo đảm an toàn, chính xác trong giao dịch của khách hàng, đồng thời tuân thủ quy định của pháp luật phòng, chống rửa tiền về nhận dạng khách hàng (Điều 9 Luật phòng chống rửa tiền năm 2012), thì các giao dịch ngân hàng luôn phải yêu cầu về giấy tờ tùy thân, kể cả việc nộp tiền mặt vào ngân hàng.

Luật Quản lý thuế quy định ngân hàng thương mại có trách nhiệm “cung cấp thông tin về số hiệu tài khoản theo mã số thuế của người nộp thuế khi mở tài khoản”.

Theo đúng nguyên tắc, khách hàng là công dân Việt Nam thuộc trường hợp được cấp chứng minh nhân dân hoặc căn cước công dân thì phải căn cứ vào các giấy tờ này, còn hộ chiếu chỉ dành cho khách hàng là người nước ngoài (không được cấp chứng minh nhân dân hoặc căn cước công dân).

Tuy nhiên, các quy định pháp luật nói chung, ngân hàng nói riêng thường liệt kê chung mà không chỉ rõ đối tượng nào được sử dụng loại giấy tờ tùy thân nào, nên thực tế khách hàng đồng thời sử dụng một trong các giấy tờ đó. Thậm chí, có thể sử dụng cả giấy tò tùy thân khác như chứng minh công an nhân dân, quân đội nhân dân.

Ngân hàng có trách nhiệm đối chiếu sự khớp đúng số giấy tờ tùy thân của người giao dịch giữa hai thời điểm khác nhau, như khi gửi tiền và rút tiền ngân hàng, khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sổ đở) và khi bán, tặng cho, thế chấp, v.v. nhà đất. Hai thời điểm này khác nhau, thậm chí vài chục năm. Do đó, khi thay đổi chứng minh nhân dân mà số khác nhau (chuyển địa chỉ thường trú sang tỉnh, thành khác hoặc đổi chứng minh nhân dân từ 9 số sang 12 số), hoặc chuyển từ chứng minh nhân dân sang thẻ căn cước công dân sẽ dẫn đến những vướng mắc pháp lý cho người dân, đặc biệt là trong các giao dịch nhà đất và ngân hàng. Việc này hoàn toàn khác với chuyên đi tàu bay của ngành hàng không, chỉ cần kiểm tra với giấy tờ tùy thân đang có, nên không gặp vướng mắc gì.

Tuy chứng minh nhân dân 12 số và 9 số đều có giá trị sử dụng như nhau, nhưng vấn đề mấu chốt nhất lại là ở chỗ, không có cơ sở pháp lý để khẳng định rằng 2 giấy tờ đó là của một người.

Khi cho khách hàng rút tiền gửi, ngân hàng phải bảo đảm rằng đó chính là người gửi theo đúng chứng minh nhân dân đã đăng ký. Nếu sơ suất để người khác rút mất tiền, thì chắc chắn ngân hàng sẽ phải đền và nhân viên ngân hàng sẽ chịu hậu quả, kể cả trách nhiệm hình sự.

Trên thực tế, ngân hàng thường phải vận dụng đủ mọi cách thức để xác định đúng khách hàng, như đề nghị xuất trình chứng minh nhân dân cũ hay hộ chiếu, hộ khẩu có ghi số chứng minh nhân dân cũ hoặc đề nghị lăn tay để đối chiếu vân tay. Nhưng có nhiều trường hợp, ngân hàng rất khó giải quyết, nên buộc phải đề nghị khách hàng chứng minh “mình chính là mình” bằng các giấy tờ xác nhận của các cơ quan chức năng.

Vấn đề bất cập như trên không phải mới xuất hiện, mà đã xảy ra khá nhiều trong suốt mấy chục năm qua đối với những người phải thay đổi hộ khẩu thường trú từ tỉnh này sang tỉnh khác, dẫn đến thay đổi chứng minh nhân dân.

Khi thay đổi hoàn toàn số chứng minh nhân dân hoặc căn cước công dân mới, không còn liên quan gì đến số cũ, pháp luật đã vô tình tạo ra một số “định danh” mới khác biệt cho công dân, mà quên mất việc phải gắn kết nó với quá khứ.

Vì vậy, cuối năm 2017, Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ đã chỉ đạo: “Bộ Công an thực hiện việc cấp Giấy xác nhận Chứng minh nhân dân cho công dân đối với tất cả các trường hợp chuyển từ Chứng minh nhân dân 9 số sang thẻ Căn cưốc công dân, thay vì chỉ cấp khi công dân có yêu cầu như hiện nay”

Như vậy, người dân tham gia giao dịch nói chung, giao dịch với ngân hàng nói riêng, có thể phải kèm theo tờ giấy xác nhận trong hàng chục năm nữa. Nếu như chỉ cần một chút cải tiến in thêm số chứng minh nhân dân vào căn cước công dân thì vừa tiết kiệm, thuận tiện mà lại bảo đảm hơn về pháp lý.

 

2. Cung cấp thông tin khách hàng

Nhiều khách hàng ngân hàng luôn băn khoăn về việc bảo mật thông tin khách hàng, liệu rằng ngân hàng có được công khai tự do những thông tin khách hàng hay không? Về vấn đề này, pháp luật ngân hàng có quy định khá chặt chẽ đảm bảo bảo mật thông tin khách hàng.

 

2.1. Quy định về bảo mật thông tin khách hàng

Căn cứ quy định tại Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi, bổ sung năm 2017) Và Nghị định 117/2018/NĐ-CP. Theo đó, pháp luật quy định về việc cung cấp thông tin khách hàng liên quan đến tổ chức tín dụng như sau:

Thứ nhất, tổ chức tín dụng không được cung cấp thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi, các giao dịch của khách hàng cho tổ chức, cá nhân khác, trừ trường hợp có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc được sự chấp thuận của khách hàng;

Thứ hai, cơ quan, tổ chức, cá nhân không được tiết lộ thông tin về việc đã báo cáo cho Ngân hàng Nhà nước

Thứ ba, hình thức yêu cầu, thời hạn, trình tự, thủ tục cung cấp thông tin theo thỏa thuận với khách hàng hoặc theo quy định của bộ luật, luật, nghị quyết của Quốc hội và các văn bản hướng dẫn thi hành;

Thứ tư, cơ quan, tổ chức, cá nhân không được cung cấp cho bên thứ ba mà không có sự chấp thuận của khách hàng, trừ trường hợp pháp luật quy định;

Thứ năm, việc cung cấp thông tin thông qua hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp qua bưu chính, phương tiện điện tử, hệ thống mạng viễn thông và mạng máy tính. Năm 2001, pháp luật đã từng quy định, không được cung cấp các thông tin “trong trường hợp khách hàng yêu cầu qua điện thoại”, tuy nhiên, quy định này đã được bãi bỏ sau đó;

Thứ sáu, trường hợp pháp luật không quy định cụ thể về thời hạn cung cấp thông tin cho cơ quan nhà nước thì không quá 10 ngày làm việc đối với trường hợp thông tin đơn giản, có sẵn; không quá 25 ngày đối với trường hợp thông tin phức tạp, không có sẵn;

Thứ bảy, tổ chức tín dụng có quyền từ chối cung cấp thông tin khách hàng đối với yêu cầu không đúng quy định của pháp luật hoặc bị trùng lắp, không thuộc phạm vi thông tin mà mình đang lưu giữ;

Thứ tám, tổ chức tín dụng không được cung cấp thông tin xác thực khách hàng khi truy cập các dịch vụ ngân hàng bao gồm mã khóa bí mật, dữ liệu sinh trắc học, mật khẩu truy cập, thông tin khác cho bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào, trừ trường hợp được sự chấp thuận của khách hàng;

Thứ chín, tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước cung cấp thông tin của khách hàng có quan hệ tín dụng với mình.

 

2.2. Quy định về chủ thể được quyền ký văn bản yêu cầu cung cấp thông tin khách hàng

Các cơ quan, cá nhân sau đây được quyền ký văn bản yêu cầu cung cấp thông tin khách hàng:

Thứ nhất, cơ quan thanh tra, với các chức vụ lãnh đạo từ thanh tra cấp huyện và các chức danh từ thành viên đoàn thanh tra trở lên;

Thứ hai, cơ quan kiểm toán nhà nưôc, với các chức vụ từ Kiểm toán trưởng và các chức danh thành viên Đoàn kiểm toán trở lên;

Thứ ba, cơ quan kiểm sát, với các chức vụ lãnh đạo Viện kiểm sát cấp huyện và các chức danh Kiểm sát viên trồ lên;

Thứ tư, cơ quan toà án, với các chức vụ lãnh đạo Toà án cấp huyện và các chức danh thẩm phán, thẩm tra viên trở lên;

Thứ năm, cơ quan điều tra, với các chức vụ lãnh đạo cơ quan và các chức danh điều tra viên trỗ lên. Quy định trước đó chỉ có Phó thủ trưỗng cơ quan điều tra cấp tỉnh trồ lên;

Thứ sáu, cơ quan công an, quân đội, với các chức vụ lãnh đạo các đơn vị nghiệp vụ trở lên;

Thứ bảy, cơ quan thi hành án, vối các chức vụ từ lãnh đạo cấp huyện và các chức danh từ chấp hành viên đang tổ chức thi hành án trở lên;

Thứ tám, cơ quan hải quan, với một số chức vụ lãnh đạo chi cục hải quan trở lên;

Thứ chín, cơ quan thuế, với các chức vụ lãnh đạo chi cục thuế trở lên. Ngân hàng thương mại có trách nhiệm cung cấp nội dung giao dịch qua tài khoản, số dư tài khoản của người nộp thuế theo yêu cầu (Điểm a khoản 2 Điều 98 về “Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc cung cấp thông tin về người nộp thuể’, Luật Quản lý thuế năm 2019)

Thứ mười, tổ chức bảo hiểm tiền gửi đôì với thông tin khách hàng được bảo hiểm tiền gửi (Luật bảo hiểm tiền gửi năm 2012)

Thứ mười một, tổ chức, cá nhân khác có quyền yêu cầu tổ chức tín dụng cung cấp thông tin khách hàng được quy định cụ thể tại bộ luật, luật, nghị quyết của Quốc hội.

Ví dụ như quy định, tổ chức tín dụng có trách nhiệm cung cấp thông tin liên quan đến nội dung xác minh về tài sản, thu nhập khi có yêu cầu của Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập; đồng thời áp dụng biện pháp cần thiết để làm rõ thông tin liên quan đến nội dung xác minh tài sản, thu nhập hoặc để ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại, chuyển dịch tài sản, thu nhập hoặc hành vi khác cản trở hoạt động xác minh tài sản, thu nhập (Luật phòng chống tham nhũng năm 2018). Hay quy định, ủy ban Chứng khoán Nhà nước có quyền yêu cầu và tổ chức tín dụng có trách nhiệm cung cấp thông tin liên quan đến giao dịch trên tài khoản của khách hàng đối với các trường hợp có dấu hiệu thực hiện hành vi bị nghiêm cấm quy định của Luật Chứng khoán (Luật chứng khoán năm 2019)

Thứ mười hai, cá nhân khác của cơ quan nhà nước được pháp luật quy định có thẩm quyền ký văn bản của cơ quan nhà nước yêu cầu cung cấp thông tin.

 

2.3. Nội dung văn bản yêu cầu cung cấp thông tin

Theo quy định tại Điều 9 Nghị định số 117/2018/NĐ-CP, Văn bản yêu cầu cung cấp thông tin phải có các nội dung sau đây:

+ Căn cứ pháp lý cụ thể quy định thẩm quyền được yêu cầu cung cấp thông tin

+ Lý do, mục đích yêu cầu, mối liên quan của khách hàng;

+ Nội dung, phạm vi, thời hạn cung cấp thông tin;

+ Hình thức yêu cầu, cung cấp; văn bản cung cấp thông tin (bản sao, bản in, bản mềm và các hình thức khác);

+ Họ và tên; số chứng minh nhân dân; địa chỉ, số điện thoại của người đại diện nhận thông tin.

Kèm theo văn bản yêu cầu cung cấp thông tin nêu trên là tài liệu do cấp có thẩm quyền ban hành và phù hợp với quy định của pháp luật có liên quan để chứng minh lý do, mục đích yêu cầu cung cấp (quyết định thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, khởi tố, truy tố, cưỡng chế, xử phạt vi phạm, thi hành án, bản án hoặc văn bản tương đương). Việc này không áp dụng đối với yêu cầu cung cấp thông tin khách hàng của cơ quan nhà nước cho mục đích thu thập thông tin, tài liệu, chứng cứ phục vụ công tác giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; bảo vệ an ninh quốc gia; phòng ngừa, đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật theo chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định.

Như vậy, Theo quy định pháp luật ngân hàng việc yêu cầu khách hàng cung cấp giầy tờ tùy thân để đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng đồng thời cũng đưa ra quy định nghiêm ngặt về việc bảo mật thông tin khách hàng.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập)