1. Các quy định của pháp luật về mở và phát hành thẻ ngân hàng, thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng

- Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017

- Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 6 năm 2016 quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

- Thông tư số 41/2018/TT-NHNN ngày 28 tháng 12 năm 2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 19/216/TT-NHNN ngày 30 tháng 6 năm 2016 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt nam quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

- Thông tư số 26/2017/NHNN ngày 29 tháng 12 năm 2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 6 năm 2016 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

2. Pháp luật về mở và phát hành thẻ ngân hàng

2.1. Thẻ ngân hàng là gì?

Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ (sử dụng thẻ để gửi, rút tiền mặt, chuyển khoản, thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ và sử dụng các dịch vụ khác do tổ chức phát hành thẻ, tổ chức thanh toán thẻ cung ứng) theo các điều kiện và điều khoản được các bên thỏa thuận, bao gồm các loại thẻ sau:

- Thứ nhất, thẻ ghi nợ (debit card) là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi số tiền và hạn mức thấu chi (nếu có) trên tài khoản thanh toán của chủ thẻ mỗ tại tổ chức phát hành thẻ;

- Thứ hai, thẻ tín dụng (credit card) là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thởa thuận với tổ chức phát hành thẻ.

- Thứ ba, thẻ trả trưóc (prepaid card) là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi giá trị tiền được nạp vào thẻ tương ứng với số tiền đã trả trước cho tổ chức phát hành thẻ. Thẻ trả trước bao gồm: Thẻ trả trước định danh (có các thông tin định danh chủ thẻ) và thẻ trả trước vô danh (không có các thông tin định danh chủ thẻ).

2.2. Tổ chức phát hành thẻ

Các tổ chức được phát hành thẻ ngân hàng bao gồm (Điều 9 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN sửa đổi tại khoản 2 Điều 1 Thông tư số 41/2018/TT-NHNN):

- Thứ nhất, ngân hàng thương mại, ngân hàng hợp tác xã, chi nhánh ngân hàng nưốc ngoài được Ngân hàng Nhà nước cho phép;

- Thứ hai, ngân hàng chính sách theo quy định của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ;

- Thứ ba, công ty tài chính chỉ được phát hành thẻ tín dụng sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận. Công ty tài chính bao thanh toán không được phát hành thẻ;

- Thứ tư, tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối được ký kết ván bản thởa thuận với tổ chức thẻ quốc tế để phát hành thẻ có BIN (mã tổ chức phát hành thẻ) do tổ chức thẻ quốc tế cấp.

- Thứ năm, TCPHT phải tuân thủ Tiêu chuẩn cơ sở về thẻ chip nội địa khi phát hành thẻ có BIN do Ngân hàng Nhà nước cấp theo lộ trình chuyển đổi quy định tại Điều 27b Thông tư này.

Thẻ ngân hàng có thể được thể hiện dưới dạng thẻ vật lý hoặc thẻ phi vật lý. Thẻ vật lý là thẻ có hình thức hiện hữu vật chất, thông thưòng được làm bằng chất liệu nhựa, có gắn dải từ hoặc chip điện tử để lưu giữ dữ liệu thẻ. Thẻ phi vật lý là thẻ không hiện hữu bằng hình thức vật chất nhưng vẫn chứa các thông tin trên thẻ, để giao dịch qua internet, điện thoại di động hoặc các thiết bị điện tử chấp nhận thẻ khác. Thẻ phi vật lý có thể được tổ chức phát hành thẻ in ra thẻ vật lý khi chủ thẻ có yêu cầu (khoản 6, 7 Điều 3 Thông tư 19/2016/TT-NHNN).

2.3. Nội dung trên thẻ

Thông tin trên thẻ phải bao gồm các yếu tố sau đây: (Điều 12 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN)

- Thứ nhất, tên (viết tắt hoặc logo thương mại) tổ chức phát hành thẻ trên mặt trước của thẻ;

- Thứ hai, tên (tên viết tắt hoặc logo thương mại) tổ chức chuyển mạch thẻ mà tổ chức phát hành thẻ là thành viên, trừ trường hợp thẻ không có tính năng giao dịch thông qua dịch vụ chuyển mạch thẻ của tổ chức chuyển mạch thẻ;

- Thứ ba, tên hoặc nhãn hiệu thương mại của thẻ (nếu có);

- Thứ tư, số thẻ;

- Thứ năm, thời hạn hiệu lực (hoặc thời điểm bắt đầu có hiệu lực) của thẻ;

- Thứ sáu, họ, tên đốì với chủ thẻ là cá nhân; tên tổ chức đốì với chủ thẻ là tổ chức và họ, tên của cá nhân được tổ chức ủy quyền sử dụng thẻ. Quy định này không áp dụng đối với thẻ trả trước vô danh.

2.4. Hạn mức thẻ

Hạn mức thẻ ngân hàng được quy định như sau (Điều 14 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN bổ sung tại khoản 5 Điều 1 Thông tư số 26/2017/TT-NHNN), như sau:

- Thứ nhất, tổ chức phát hành thẻ thỏa thuận với chủ thẻ về hạn mức thanh toán, hạn mức chuyển khoản, hạn mức rút tiền mặt và các hạn mức khác trong việc sử dụng thẻ đối với chủ thẻ (cá nhân hoặc tổ chức được tổ chức phát hành thẻ cung cấp thẻ để sử dụng, bao gồm chủ thẻ chính và chủ thẻ phụ) phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành, trong đó có quy định về quản lý ngoại hối;

- Thứ hai, đối với hạn mức rút ngoại tệ tiền mặt tại nước ngoài, một thẻ được rút số ngoại tệ tiền mặt tối đa tương đương 30 triệu đồng trong một ngày;

- Thứ ba, đối với thẻ trả trước vô danh, số dư trên một thẻ trả trước tại mọi thời điểm không được quá 05 triệu đồng.

2.5. Cấp tín dụng qua thẻ

Tổ chức phát hành thẻ được xem xét và quyết định cấp tín dụng qua thẻ tín dụng cho chủ thẻ đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau (Điểm c khoản 1 Điều 15 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN)

- Thứ nhất, chủ thẻ không thuộc đối tượng không được cấp tín dụng quy định của Luật Các tổ chức tín dụng;

- Thứ hai, chủ thẻ sử dụng tiền vay đúng mục đích và có khả năng tài chính bảo đảm trả nợ đúng hạn;

- Thứ ba, tổ chức phát hành thẻ xem xét và yêu cầu chủ thẻ áp dụng các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo quy định của pháp luật;

- Thứ tư, hạn mức thẻ tín dụng đối vối một số cá nhân là ngưòi quản lý và người có liên quan của họ (theo quy định tại khoản 1 Điều 126 Luật Các tổ chức tín dụng) không quá 500 triệu đồng đôì với trường hợp không có tài sản bảo đảm và không quá 01 tỷ đồng đôì với trường hợp có tài sản bảo đảm.

Pháp luật cũng quy định, tổ chức phát hành thẻ phải ban hành quy định nội bộ về phát hành thẻ áp dụng trong hệ thông của mình.

Quy định về phát hành và sử dụng thẻ ngân hàng không điều chỉnh đối với các loại thẻ do các tổ chức cung ứng hàng hóa, dịch vụ phát hành chỉ để sử dụng trong việc thanh toán hàng hóa, dịch vụ của chính các tổ chức phát hành đó.

3. Thẻ ghi nợ là gì? Phân biệt thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng

Thưa luật sư, tôi có một thắc mắc về các loại thẻ ngân hàng. Vừa qua tôi có đi mở tài khoản ở ngân hàng, có được nhân viên ngân hàng giới thiệu về các loại thẻ. Trong đó bản than tôi thấy thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ có bản chất tương đối giống nhau. Không biết là hiểu biết của tôi như vậy có đúng không. Tôi hy vọng luật sư có thể giúp tôi phân biệt 2 loại thẻ này. Rất mong nhận được giải đáp. Xin cảm ơn!

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi tới Luật Minh Khuê, thắc mắc của bạn chúng tôi nghiên cứu và giải đáp như sau:

Thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ là các phương thức thanh toán thay thế tiền mặt đang được sử dụng ngày càng phổ biến. Thế nhưng vẫn có không ít người nhầm lẫn về đặc điểm của hai loại thẻ này.

3.1 Thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng là gì?

Về vấn đề này, căn cứ quy định tại khoản 2, 3 Điều 3 Thông tư  số 19/2016/TT-NHNN quy định về thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ như sau:

"Điều 3. Giải thích từ ngữ
2. Thẻ ghi nợ (debit card) là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi số tiền và hạn mức thấu chi (nếu có) trên tài khoản thanh toán của chủ thẻ mở tại tổ chức phát hành thẻ.

3. Thẻ tín dụng (credit card) là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ".

Theo quy định trên, có thể hiểu:

- Thẻ ghi nợ (Debit card) là loại thẻ thanh toán dựa theo hình thức trả trước, chi tiêu và thực hiện giao dịch đúng với số tiền có trong tài khoản. Nếu còn đủ tiền trong tài khoản thì mới sử dụng thẻ để thanh toán được.

- Thẻ tín dụng (credit card) là loại thẻ cho phép khách hàng thanh toán mà không cần có tiền trong thẻ. Nói cách khác thì đây chính là một hình thức vay tiền của ngân hàng để thanh toán trước và tới kỳ hạn thanh toán chủ thẻ có nhiệm vụ phải trả tiền lại đầy đủ cho ngân hàng.

Hiện nay, cả thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ đều được các ngân hàng tại Việt Nam phát hành với 02 loại là thẻ nội địa và thẻ quốc tế để đáp ứng nhu cầu của người sử dụng.

Trong đó, thẻ nội địa chỉ sử dụng cho tiêu dùng trong nước. Còn thẻ quốc tế thì có thể sử dụng ở cả trong nước và nước ngoài.

3.2. Phân biệt thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ

Có thể phân biệt thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ qua các tiêu chí sau:

Tiêu chí so sánh

Thẻ ghi nợ

Thẻ tín dụng

Cấu tạo thẻ

- Mặt trước: Có dòng chữ "Debit" kèm theo biểu tượng của tổ chức phát hành gồm logo ngân hàng và logo của tổ chức liên kết (Visa, Mastercard). Ngoài ra còn có các thông tin như tên chủ thẻ, số thẻ, thời gian hiệu lực thẻ.

- Mặt sau: Có dải băng từ chứa thông tin thẻ đã được mã hóa.

- Mặt trước: Có chữ "Credit" (một số ngân hàng có thể không có) kèm theo các thông tin: Logo ngân hàng và logo thương hiệu liên kết phát hành (JCB, Visa, Mastercard), tên chủ thẻ, số thẻ, thời gian hiệu lực thẻ.

- Mặt sau: Dãy số bảo mật CVV/CVC và ô chữ ký dành cho chủ thẻ (đây là các yếu tố bảo mật nên chủ thẻ cần đặt biệt đảm bảo không để lộ).

Mức chi tiêu

Nhỏ hơn hoặc bằng số tiền có trong tài khoản.

- Dựa vào hạn mức ngân hàng cung cấp cho chủ thẻ.

- Khách hàng có thể thanh toán mà không cần có tiền trong thẻ. Sau đó tới kỳ hạn thanh toán chủ thẻ có nhiệm vụ phải trả tiền lại đầy đủ cho ngân hàng.

Điều kiện làm thẻ

Chỉ cần có chứng minh nhân dân hoặc căn cước công dân.

Người mở thẻ phải có: công việc ổn định, hồ sơ chứng minh thu nhập, Sao kê thu nhập trung bình mỗi tháng, Hợp đồng lao động, giấy tờ tài sản sở hữu….

Như vậy, qua việc phân biệt dựa trên các tiêu chí cụ thể, Luật Minh Khuê đã cung cấp tới bạn đọc về sự khác biệt cơ bản giữa thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ.

Trên đây là bài viết của chúng tôi về nội dung pháp luật về mở và phát hành thẻ ngân hàng. Phân biệt thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập)