1.Phân loại pháp nhân
Pháp nhân công pháp và pháp nhân tư pháp. Tạm gọi là pháp nhân công pháp trong luật Việt Nam, các tổ chức nắm giữ quyền lực công cộng và thực hiện một trong các chức năng của Nhà nước hoặc đảm nhận một vai trò trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa. Ðảng cộng sản, giữ vị trí trung tâm trong hệ thống chính trị, là một ví dụ về pháp nhân công pháp. Trong danh sách pháp nhân công pháp được ghi nhận trong luật viết hiện hành không có Nhà nước; song tư cách pháp nhân của Nhà nước được thừa nhận trong nhiều chế định, đặc biệt là trong pháp luật về tài sản và pháp luật thừa kế: Nhà nước là người thực hiện quyền sở hữu toàn dân về tài sản, là người tiếp nhận các di sản không người hưởng. Nhà nước có các cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân. Các cơ quan Nhà nước được phân loại thành cơ quan Nhà nước trung ương và cơ quan Nhà nước của các địa phương. Các đơn vị hành chính thành lập theo lãnh thổ (tỉnh, thành phố, huyện, thị xã, xã, phường, thị trấn) không phải là pháp nhân84 , mà chính các cơ quan Nhà nước được thành lập trong khuôn khổ tổ chức bộ máy chính quyền địa phương là các pháp nhân. Bên cạnh Nhà nước có các tổ chức thành viên khác của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa: mặt trận tổ quốc, tổng liên đoàn lao động Việt Nam,... Các pháp nhân công pháp quản lý tài sản của mình bằng các công cụ của hệ thống kế toán công. Pháp nhân công pháp có thể hình thành từ sự kết nhóm của các cá nhân (nói chung, các chủ thể của quan hệ pháp luật), như Ðảng cộng sản, mặt trận tổ quốc, tổng liên đoàn lao động,..., nhưng cũng có thể do ý chí của Nhà nước, như các cơ quan hành chính Nhà nước, các cơ quan dịch vụ công - trường học, bệnh viện... Pháp nhân tư pháp không phải là pháp nhân công pháp. Tổ chức kinh tế là ví dụ điển hình về pháp nhân tư pháp. Tổ chức kinh tế có thể là doanh nghiệp Nhà nước, các hợp tác xã, các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần,... Có một số tổ chức kinh tế, do Nhà nước thành lập, mang tính chất của pháp nhân hỗn hợp, vừa công pháp vừa tư pháp, như các doanh nghiệp Nhà nước độc quyền trong các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế quốc dân (bưu chính viễn thông, hàng không dân dụng, năng lượng,...) . Các hội tự nguyện của những người có cùng nghề nghiệp, cùng sở thích, cùng lợi ích cá nhân chung (như hội những người nuôi tôm, hội câu cá, hội làm vườn,...) cũng là các pháp nhân tư pháp. Các pháp nhân tư pháp hoạt động sản xuất, kinh doanh và pháp nhân hỗn hợp áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp. Trong luật Việt Nam hiện hành doanh nghiệp Nhà nước trong các lĩnh vực mà Nhà nước không nắm độc quyền cũng mang các đặc điểm cơ bản của pháp nhân tư pháp. Tuy nhiên, các cán bộ điều hành chủ chốt của các doanh nghiệp này lại được hưởng quy chế đặc biệt như công chức biệt phái sang khu vực kinh tế. Quỹ xã hội, quỹ từ thiện. Khác với pháp nhân được thành lập từ sự kết nhóm của các chủ thể của quan hệ pháp luật hoặc do ý chí của Nhà nước, quỹ xã hội, quỹ từ thiện là một pháp nhân hình thành từ việc trích các tài sản, vốn thuộc một hình thức sở hữu nào đó, để tạo thành một khối tài sản phục vụ cho các hoạt động xã hội hoặc từ thiện. Quỹ xã hội, quỹ từ thiện không phải là một nhóm người mà là một tập hợp tài sản và chính từ sự cần thiết của việc đặt các tài sản thuộc tập hợp đó dưới một chế độ quản lý chặt chẽ để việc khai thác quỹ đó thực sự có hiệu quả mà luật thừa nhận tư cách pháp nhân của tổ chức con người quản lý quỹ đó. Pháp nhân có thu lợi nhuận và pháp nhân không thu lợi nhuận. Thu lợi nhuận có thể được hiểu như là hoạt động đầu tư tài sản để tìm kiếm chênh lệch giá trị giữa đầu vào và đầu ra. Các pháp nhân công pháp và các quỹ xã hội, quỹ từ thiện là các pháp nhân không thu lợi nhuận. Pháp nhân tư pháp và pháp nhân hỗn hợp có thể nhắm đến mục đích thu lợi nhuận hoặc các mục đích khác. Một sồ pháp nhân không thu lợi nhuận, trong khung cảnh của luật thực định, có thể tìm kiếm lợi ích vật chất thông qua việc thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên bằng tài sản của mình.
2.Sự thành lập pháp nhân
Pháp nhân có thể được thành lập trong khuôn khổ xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện bộ máy Nhà nước hoặc theo ý chí của các chủ thể của quyền và nghĩa vụ được luật thừa nhận. Thành lập pháp nhân trong khuôn khổ xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa. Nhà nước và Ðảng cộng sản là những pháp nhân trung tâm trong nhóm các pháp nhân loại này. Các tổ chức thành viên của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa khá đa dạng: mặt trận tổ quốc, tổng liên đoàn lao động, đoàn thanh niên cộng sản, hội liên hiệp phụ nữ, hội liên hiệp thanh niên, hội cựu chiến binh, các tổ chức thành viên khác của mặt trân tổ quốc,... Trong hầu hết trường hợp, các tổ chức này hình thành như là kết quả sự vận động mang tính quy luật của phong trào cách mạng. Ở góc độ pháp lý, tư cách pháp nhân của các tổ chức này được thừa nhận một cách đương nhiên trong trường hợp tổ chức đã ra đời trước khi có Nhà nước XHCN và sự hiện hữu của tổ chức trong hệ thống chính trị được chính thức ghi nhận trong Hiến pháp. Ví dụ điển hình là việc thừa nhận tư cách pháp nhân của Đảng cộng sản, Đoàn thanh niên, Mặt trận Tổ quốc, Tổng công đoàn… Nếu tổ chức được thành lập sau khi có Nhà nước XHCN, thì thông thường, tư cách pháp nhân của tổ chức được thừa nhận trong văn bản của cơ quan có thẩm quyền cho phép thành lập tổ chức đó. Ví dụ điển hình là việc thừa nhận tư cách pháp nhân của Hội cựu chiến binh. Thành lập pháp nhân trong khuôn khổ xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước. Các cơ quan Nhà nước được thành lập theo trình tự, thủ tục do pháp luật (chủ yếu là luật Nhà nước) quy định. Một khi thủ tục thành lập hoàn tất, tư cách pháp nhân của cơ quan Nhà nước cũng phát sinh. Chính luật tạo ra các pháp nhân loại này; còn cơ quan ra quyết định thành lập chỉ là một trong những người thực hiện các thủ tục cần thiết cho sự ra đời của pháp nhân. Thậm chí có trường hợp pháp nhân được thành lập do hiệu lực trực tiếp của luật chứ không phải của một văn bản áp dụng pháp luật. Ví dụ điển hình là việc thành lập các cơ quan Hội đồng nhân dân, UBND các cấp. Cơ quan Nhà nước được phân loại thành cơ quan quyền lực, cơ quan xét xử, cơ quan kiểm sát và cơ quan quản lý. Trong các cơ quan quản lý còn có cơ quan quản lý thuần tuý (còn gọi là cơ quan hành chính) và cơ quan sự nghiệp (tức là cơ quan hoạt động có thu). Thành lập pháp nhân theo ý chí của chủ thể của quyền và nghĩa vụ được luật thừa nhận. Các pháp nhân loại này có thể mang tính chất của pháp nhân tư pháp hoặc pháp nhân hỗn hợp hoặc quỹ xã hội, quỹ từ thiện. Các pháp nhân này có thể sinh ra trên cơ sở hợp đồng giữa các chủ thể của quan hệ pháp luật (như trường hợp công ty nhiều thành viên) hoặc do hành vi pháp lý đơn phương (như trường hợp công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, quỹ xã hội do một người lập). Việc thành lập pháp nhân loại này phải được sự cho phép hoặc công nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và, trong hầu hết các trường hợp, pháp nhân phải đăng ký hoạt động mới được hưởng tư cách đó trước người thứ ba. Riêng về quỹ xã hội, quỹ từ thiện do một cá nhân thành lập. Sẽ không có vấn đề gì đặc biệt nếu quỹ được thành lập lúc cá nhân còn sống và đã hoàn tất các thủ tục cần thiết để được hưởng tư cách pháp nhân. Nhưng, nếu cá nhân thành lập quỹ bằng di chúc, thì sao? Theo BLDS Ðiều 635 “Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức, thì phải là cơ quan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế”. Quỹ xã hội, quỹ từ thiện lập bằng di chúc chỉ có thể tồn tại sau khi mở thừa kế, rõ hơn là sau khi hoàn tất các thủ tục xin phép thành lập....
3.Các cơ quan của pháp nhân
Pháp nhân, như đã biết, không phải là con người cụ thể. Ðể thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trong quan hệ với người thứ ba, pháp nhân được tổ chức thành các cơ quan tại đó, các cá nhân được bố trí ở các cương vị khác nhau và xử sự nhân danh pháp nhân.
4.Pháp nhân công pháp
Nhà nước, các cơ quan Nhà nước và đơn vị vũ trang. Nhà nước được tổ chức thành các cơ quan. Tổ chức Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa không dựa vào học thuyết phân quyền. Tư tưởng chủ đạo trong việc tổ chức Nhà nước là: một mặt, toàn bộ quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân; mặt khác, giữa các cơ quan Nhà nước có sự phân công để thực hiện các chức năng của Nhà nước.
Cơ quan hành chính Nhà nước có thẩm quyền chuyên môn, cơ quan kiểm sát và cơ quan xét xử, cũng như đơn vị vũ trang được tổ chức và điều hành theo chế độ thủ trưởng: người đứng đầu cơ quan là người duy nhất được thay mặt cơ quan để xác lập và thực hiện các giao dịch với người thứ ba. Cơ quan quyền lực và quản lý Nhà nước có thẩm quyền chung được điều hành theo nguyên tắc lãnh đạo tập thể. Trong quan hệ với các chủ thể khác của quan hệ pháp luật, các cơ quan này được đại diện bởi người đứng đầu gọi là Chủ tịch. Riêng Thủ tướng chính phủ và Chủ tịch nước là cơ quan đặc biệt: bản thân cơ quan Chủ tịch nước, Thủ tướng chính phủ và cá nhân Chủ tịch nước, Thủ tướng chính phủ hoàn toàn đồng nhất. Tổ chức trong hệ thống chính trị. Các tổ chức trong hệ thống chính trị có các cơ quan được ghi nhận trong điều lệ hoạt động của mình. Đảng cộng sản có Bộ chính trị, Ban Bí thư, Ban chấp hành trung ương,…; Mặt trận Tổ quốc có Uỷ ban trung ương;…
5.Pháp nhân tư pháp và pháp nhân hỗn hợp
Nguyên tắc phân công giữa các cơ quan. Để ngăn ngừa sự lạm quyền của một hoặc một nhóm cá nhân trong việc điều hành pháp nhân cũng như trong các hoạt động đối ngoại của pháp nhân, việc phân chia pháp nhân thành nhiều cơ quan tỏ ra cần thiết. Việc tổ chức các cơ quan của các pháp nhân tư pháp và pháp nhân hỗn hợp được thực hiện theo đúng điều lệ mà pháp nhân có quyền (và có nghĩa vụ) xây dựng. Ðiều lệ của pháp nhân phải có hình thức và nội dung phù hợp với các quy định của pháp luật áp dụng đối với từng loại pháp nhân. Ðiều lệ của pháp nhân, một khi được xây dựng và thông qua đúng luật, có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với tất cả thành viên của pháp nhân. Không chấp nhận điều lệ, thành viên chỉ có mỗi cách xử sự đúng luật là xin ra khỏi pháp nhân. Điều lệ hợp pháp của pháp nhân cũng có hiệu lực đối kháng với người thứ ba. Một cách tổng quát, pháp nhân tư pháp và pháp nhân hỗn hợp có hai nhóm cơ quan chính: cơ quan quyết nghị và cơ quan chấp hành. Một số pháp nhân có quy mô tổ chức lớn còn có thêm cơ quan kiểm soát.
- Cơ quan quyết nghị của pháp nhân: là cơ quan có quyền quyết định cao nhất của pháp nhân và có cả khả năng định đoạt số phận pháp lý của pháp nhân (sáp nhập, giải thể,..). Cơ quan này được tổ chức dưới hình thức đại hội thành viên.
- Cơ quan chấp hành của pháp nhân: là cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện các quyết định của cơ quan quyết nghị, đồng thời đảm nhận việc quản lý đối với các công việc hàng ngày của pháp nhân, kể cả việc đại diện cho pháp nhân trong quan hệ với người thứ ba. Cơ quan chấp hành có thể mang những tên gọi khác nhau: ban giám đốc, hội đồng quản trị, ban quản lý,... Bằng hoạt động của mình, cơ quan chấp hành ràng buộc trách nhiệm của pháp nhân đối với những giao dịch mà cơ quan chấp hành xác lập và thực hiện nhân danh pháp nhân và trong giới hạn quyền và nhiệm vụ được giao.
- Cơ quan kiểm soát: là cơ quan có trách nhiệm bảo đảm tính hợp pháp của các hoạt động của pháp nhân. Thông qua hoạt động kiểm soát, cơ quan này đánh giá chất lượng pháp lý của sự vận hành của pháp nhân cũng như của các giao dịch mà pháp nhân xác lập với người thứ ba.
Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập)