1. Phòng ngừa tội phạm trên nền tảng cộng đồng là gì?

Phòng ngừa tội phạm trên nền tảng cộng đồng là sự kết hợp của hai cách tiếp cận phòng ngừa tình huống phạm tội và phòng ngừa tội phạm trên cơ sở phát triển xã hội . Hình thức phòng ngừa này tập trung vào hai nhóm là phòng thủ tại cộng đồng và mô hình phát triển cộng đồng . Với đề cập cộng đồng tính chất phòng ngừa như vậy thì hướng tiếp cận này với vai trò là một chủ thể phòng ngừa . Để phát huy được hiệu quả cao của một chủ thể phòng ngừa tội phạm thì cộng đồng phải được hiểu theo hai nghĩa là : 

1) Theo nghĩa truyền thống với nội hàm thể hiện không gian thì nó thể hiện khu vực dân cư theo địa lý

2) Với tư cách một tế bào trong cấu trúc xã hội thì hàm nghĩa là một nhóm người có cùng chung đặc điểm về văn hóa, xã hội, tôn giáo... (ví dụ như cộng đồng người Việt tại Liên bang Nga, cộng đồng Hồi giáo) với những ràng buộc cá nhân bền vững ở cấp độ cao cũng như có sự gắn kết xã hội .

2. Nền tảng cộng đồng có vai trò gì trong phòng ngừa tội phạm?

Các cộng đồng là các thiết chế trung tâm phòng ngừa tội phạm, là sân khấu mà tất cả các tổ chức khác trình diễn. Gia đình, trường học, thị trường lao động, các tổ chức riêng lẻ, cảnh sát và các cơ sở cải tạo phải đối đầu với hậu quả của cuộc sống cộng đồng . Nhiều thành công hoặc thất bại của các tổ chức bị tác động bởi hoàn cảnh cộng đồng mà tại đó nó diễn ra. Khả năng ngăn ngừa tội phạm bạo lực nghiêm trọng của đất nước có thể phụ thuộc rất nhiều vào khả năng hỗ trợ định hình lại cuộc sống cộng đồng của chúng ta , ít nhất là trong các cộng đồng rắc rối nhất. Điều may mắn là số lượng các cộng đồng gặp rắc rối này không nhiều. Thách thức của chúng ta là những vấn đề trong các cộng đồng này rất sâu sắc.

3. Trộm cắp tài sản là gì?

Trộm cắp tài sản là hành vi lén lút lấy tài sản của người khác với mục đích chiếm đoạt. Đặc điểm nổi bật của tội trộm cắp tài sản so với các tội xâm phạm quyền sở hữu khác là người phạm tội có hành vi lén lút, bí mật di chuyển bất hợp pháp tài sản của người khác nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản này. “Lén lút” được xem là đặc điểm mang tính riêng biệt của tội trộm cắp tài sản.

4.  Việc nghiên cứu phòng ngừa tội phạm trộm cắp tài sản có ý nghĩa?

Ý nghĩa về lý luận của phòng ngừa tình hình tội phạm trộm cắp tài sản : Nghiên cứu về tội phạm học khẳng định , phòng ngừa tình hình tội phạm chỉ có thể đạt được trên cơ sở đã hiểu rõ tình hình tội phạm cũng như xác định được quy luật vận động của khách thể đó . Như vậy , việc nghiên cứu tội phạm trộm cắp tài sản chính là chúng ta đi nghiên cứu những nguyên nhân , điều kiện làm phát sinh tội phạm trộm cắp tài sản cũng như đi nghiên cứu những yếu tố tác động đến người có hành vi lệch chuẩn với xã hội . Chính vì vậy , muốn phòng ngừa tội phạm trộm cắp tài sản đạt hiệu quả phải không chế hoặc loại trừ các nguyên nhân . điều kiện làm phát sinh tội phạm trộm cắp tài sản và các tệ nạn khác liên quan . 

Ý nghĩa về thực tiễn của phòng ngừa tình hình tội phạm trộm cắp tài sản:  Việc nghiên cứu phòng ngừa tình hình tội phạm trộm cắp tài sản có ý nghĩa hết sức quan trọng trong công tác đấu tranh , phòng ngừa tội phạm trộm cắp tài sản . Vì nghiên cứu phòng ngừa tình hình tội phạm trộm cắp tài sản chính là đi tìm hiểu nguyên nhân , điều kiện làm phát sinh tội phạm cũng như những yếu tố tác động đến người thực hiện hành vi phạm tội .

Phòng ngừa tội phạm trộm cắp tài sản là một phương hướng mang tính chiến lược lâu dài, không phải một sớm , một chiều mà có thể xóa bỏ hoặc triệt tiêu ra khỏi xã hội , mà chỉ có thể từng bước kìm hãm và giảm đi tình trạng tội phạm trộm cắp tài sản . Giúp cho các cơ quan chức năng phát hiện những nguyên nhân , điều kiện phát sinh tội phạm trộm cắp tài sản . Ngoài ra , việc thực hiện phòng ngừa tình hình tội phạm trộm cắp tài sản còn có ý nghĩa chính trị xã hội sâu sắc . làm tốt công tác phòng ngừa tình hình tội phạm trộm cắp tài sản sẽ góp phần giữ vững an ninh quốc gia , đảm bảo trật tự an toàn xã hội . bảo vệ tính mạng , tài sản người dân .

5. Có những nguyên tắc phòng ngừa tình hình tội phạm trộm cắp tài sản nào?

- Nguyên tắc pháp chế XHCN

- Nguyên tắc dân chủ

- Nguyên tắc nhân đạo

- Nguyên tắc khoa học và tiến bộ

- Nguyên tắc phối hợp chặt chẽ với các chủ thể phòng ngừa

- Nguyên tắc cụ thể hóa trong hoạt động phòng ngừa

6. Việt Nam có quy định nào về phòng ngừa tội phạm trộm cắp tài sản trên nền tảng cộng đồng?

-  Phạt hành chính:

Đối với hành vi trộm cắp tài sản lần đầu, không gây hậu quả nghiêm trọng về giá trị tài sản thiệt hại (dưới 02 triệu), chưa bị kết án về 01 trong các tội về chiếm đoạt tài sản thì người thực hiện hành vi vi phạm chỉ bị xử phạt hành chính.

Điểm a khoản 1 Điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định:

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Trộm cắp tài sản”

Như vậy, mức phạt hành chính với hành vi trộm cắp tài sản theo quy định của pháp luật là từ 01 đến 02 triệu đồng.

- Truy cứu TNHS:

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản trong BLHS 2015 quy định:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu thoát;

e) Trộm cắp tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Trộm cắp tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Trộm cắp tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

- Hình phạt bổ sung: Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 05 - 50 triệu đồng.

- Độ tuổi chịu TNHS về trộm cắp tài sản

Căn cứ theo Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015, độ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội trộm cắp tài sản là:

- Người từ đủ 16 tuổi trở lên;

- Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Trong đó, theo Điều 9 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì:

  • Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà khung hình phạt cao nhất do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 - 15 năm tù;
  • Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà khung hình phạt cao nhất do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 - 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

Như vậy, mọi hình phạt đối với tội trộm cắp tài sản đều có thể áp dụng với người từ đủ 16 tuổi trở lên. Riêng đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, chỉ phải chịu hình phạt tù đối với tội trộm cắp tài sản trên 200 triệu; lợi dụng thiên tai, dịch bệnh hoặc lợi dụng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp để trộm cắp tài sản.

- Về phương thức thủ đoạn hoạt động của tội phạm trộm cắp tài sản:

  •  Tội phạm đột nhập vào nhà dân hoặc các cơ quan, doanh nghiệp, trường học để trộm cắp tài sản: Trước khi gây án các đối tượng thường được tiếp cận hiện trường để nắm tình hình, nghiên cứu phát hiện những sơ hở, thiếu sót, mất cảnh giác trong công tác quản lý bảo vệ trộm cắp tài sản.
  • Đối với các hộ gia đình: đối tượng thường nhằm vào những hộ gia đình thường xuyên vắng nhà, không có người trông coi; nhà ở khu vực ít dân cư, hộ gia đình sống biệt lập, không trang bị hệ thống chống trộm nên kẻ gian dễ dàng bẻ, cắt khóa đột nhập để trộm cắp tài sản.
  • Đối với tội phạm trộm xe máy: Thủ đoạn chủ yếu của tội phạm là lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của người dân trong việc quản lý xe máy như: dựng xe ở nơi vắng vẻ ít người qua lại (ngoài cánh đồng, bãi tha ma, trên đường đê…), dựng xe ngoài đường, trước cửa nhà, trong sân khuất tầm quan sát, không sử dụng khóa chống trộm, không khóa cổ, khóa càng hoặc để cả chìa khóa ở xe tạo sơ hở cho đối tượng dễ dàng lấy trộm xe.

- Để chủ động phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm trộm cắp tài sản cần tăng cường các biện pháp sau:

  •  Đối với tài sản là xe máy: Quần chúng nhân dân cần trang bị thêm hệ thống chống trộm như khóa bánh, khóa càng, khóa chân trống và khóa điện để chống trộm, lắp hệ thống còi báo động… Chú ý để xe ở những nơi dễ quan sát, phải có người trông coi, để xe vào trong nhà, không nên để xe ở sân, trước cửa nhà hay hành lang, rút chìa khóa cất vào nơi an toàn.
  •  Đối với các hộ gia đình: Cần gia cố các loại cửa, sử dụng các loại khóa có chức năng chống trộm, chống axit để chống cắt phá khóa. Khi đi ngủ cần kiểm tra các cửa ra vào, cửa số, các cửa trên tầng, cửa tum, cửa ra ban công, sân thượng. Khi vắng nhà qua đêm, vắng nhiều ngày phải nhờ người trông coi. Nên làm tường rào ngăn chặn việc leo trèo từ cây xanh, trụ điện gần để đột nhập vào trong nhà, nên trang bị camera giám sát hoặc chuông báo động chống trộm để quan sát từ xa. Tạo mối quan hệ gắn bó với người xung quanh, phải biết số điện thoại của nhau để hỗ trợ khi cần thiết.
  • Đối với các cơ quan, doanh nghiệp, trường học: Cần bố trí bảo vệ 24/24 giờ, thường xuyên tập huấn chuyên sâu về kiến thức pháp luật và cung cấp thông tin tuyên truyền về phương thức, thủ đoạn của tội phạm trộm cắp tài sản cho cán bộ, công chức cơ quan nắm được để nâng cao ý thức cảnh giác phòng ngừa tội phạm. Nên lắp đặt hệ thống giám sát an ninh (camera, hệ thống báo động…) ở những vị trí quan trọng, nơi để tài sản có giá trị cao, xây dựng tường rào, thường xuyên tổ chức tuần tra, canh gác nghiêm ngặt để bảo vệ tài sản. Lưu ý tuyển dụng nhân viên bảo vệ có lý lịch rõ ràng, phẩm chất đạo đức tốt.

Quần chúng nhân dân cần nêu cao tinh thần cảnh giác, bảo vệ tài sản, tích cực tham gia phòng ngừa, đấu tranh tố giác các loại tội phạm nhất là tội phạm trộm cắp tài sản. Khi phát hiện các thông tin về các đối tượng nghi vấn trộm cắp tài sản, tiêu thụ tài sản trộm cắp, các đối tượng có biểu hiện thường xuyên lui tới, nắm tình hình hoặc tiếp cận nhà, tài sản của người khác… Kịp thời thông báo cho cơ quan công an nơi gần nhất.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.