1. Dấu hiệu chứng minh tội trộm cắp tài sản ?

Xin hỏi luật sư sự việc như sau:nhà tôi vừa rồi xảy ra vụ mất cắp không rõ hung thủ,mà người nhà nghi ngờ cho chính tôi.vậy tôi hỏi luật sư nên làm như thế nào ?
Cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự trực tuyến, gọi: 1900.0159

Trả lời:

Điều 2 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nêu cơ sở của trách nhiệm hình sự như sau:

"Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự."

Như vậy, việc người nhà bạn nghi ngờ bạn thực hiện vụ trộm cắp chỉ là ý chí chủ quan của họ và dựa trên những căn cứ chưa rõ ràng. Trong trường hợp này, họ chỉ có thể trình báo cơ quan chức năng về vụ trộm cắp mới xảy ra. Nếu người nhà bạn tố cáo bạn tới cơ quan có thẩm quyền, sau khi xác minh không thấy căn cứ chỉ ra bạn thực hiện vụ trộm cắp nêu trên thì họ có thể bị truy cứu trách nhiệm về tội vu khống quy định tai Điều 156 BLHS như sau:

"Điều 156. Tội vu khống

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với 02 người trở lên;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người đang thi hành công vụ;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

h) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Vì động cơ đê hèn;

b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm."

>> Bài viết tham khảo thêm: Mẫu đơn trình báo công an

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.0159 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Tư vấn thời hạn tạm giam, hình phạt cho tội tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy ?

2. Ăn trộm đồng phế liệu có bị truy cứu TNHS không?

Thưa luật sư. Tôi và 2 người nữa cùng nhau trộm cắp 49 kg phoi đồng phế liệu trong công ty của người nhật ở Hải Phòng, họ không bắt được trực tiếp. Tuy nhiên qua bảo vệ của một công ty khác họ bắt được số phoi đồng nằm ở bãi rác của một công ty gần đó. Khi đó người ta nghi ngờ chúng tôi nên chúng tôi đã nhận. Tuy nhiên công ty không xử lý mà lại mời công an đến để điều tra, thực ra chưa điều tra chúng tôi đã nhận.
Nhưng người ta bảo số phoi đồng này trị giá 4 triệu nên người ta mời công an vào để làm rõ đây là lần đầu tiên chúng tôi làm và đã nhận. Vậy chúng tôi có bị truy tố hay xử phạt gì không ?
Xin cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua điện thoại gọi: 1900.0159

Trả lời:

Với thông tin bạn cung cấp, có thể thấy:

- Nếu giá trị số phoi đồng kia có giá trị từ 2.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng "đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm" hoặc "đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm" hoặc "gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội" hoặc "tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ" hoặc "tài sản là di vật, cổ vật" thì nhóm của bạn sẽ là đồng phạm trong vụ án "trộm cắp tài sản".

Tùy theo tinh tiết vụ án, hình phạt theo quy định tại Điều 173 BLHS (Tội trộm cắp tài sản" như sau:

Hình phạt chính Hình phạt bổ sung
- Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm (với khoản 1) Có thể bị hạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng

- Phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (với khoản 1)

- Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm (với khoản 2)

- Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm (với khoản 3)

- Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm (với khoản 4)

- Nếu không đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản thì hành vi trộm cắp của bạn và hai người khác sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP:

"Điều 15. Vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của người khác

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Trộm cắp tài sản;

...

4. Người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này, thì tùy theo mức độ vi phạm có thể bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất khỏi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam."

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Thủ tục khai báo khi bị mất trộm tài sản ? Thời hiệu xử lý tội trộm cắp tài sản là bao lâu ?

3. Quy định về trách nhiệm liên đới bồi thường ?

Thưa luật sư, mong luật sư tư vấn giúp tôi vấn đề sau: Tôi làm cho 1 doanh nghiệp Nhà Nước và đang đi làm ở nước ngoài. Sau một vài năm làm việc thì đến lúc tôi có ý định muốn về lại xảy ra một việc lớn. Trong thời gian tôi làm giám đốc vì đã quá tin tưởng trưởng phòng tài chính nên đã không kiểm tra.
Đến khi tôi nghỉ phép về Việt Nam một vài tuần sang thì mới hay trưởng phòng tài chính đã lấy mất số tiền lên đến 2 tỷ đồng của chi nhánh sau khi công ty xuống kiểm tra. Tôi đã không nghi ngờ gì suốt thời gian bị trưởng phòng tài chính lừa dối vậy và công ty đã có những lần xuống kiểm tra cũng không phát hiện ra. Khi công ty biết tài chính đã nhận hết về mình nhưng không thể bồi thường lại được vì đã tiêu vào cờ bạc. Cho tôi hỏi tôi có phải chịu trách nhiệm gì trong trường hợp này không?
(Tôi làm giám đốc chi nhánh người gây ra là trưởng phòng tài chính) Tôi xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn hình sự trực tuyến, gọi 1900.0159.

Trả lời:

Căn cứ điều 285 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009:

"Điều 285. Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng

1. Người nào vì thiếu trách nhiệm mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao gây hậu quả nghiêm trọng, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 144, 235 và 301 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm.

3. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm".

Thiếu trách nhiệm là không làm hoặc làm không hết trách nhiệm được giao nên mới gây hậu quả, nếu làm trong trách nhiệm được giao thì không thể gây hậu quả. Trường hợp đã làm hết trách nhiệm mà hậu quả vẫn xảy ra thì không phải là thiếu trách nhiệm và không phải là hành vi phạm tội này dù hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

Tuy chưa có hướng dẫn thế nào là gây hậu quả nghiêm trọng do hành vi thiếu trách nhiệm gây ra, nhưng kham khảo hướng dẫn của liên ngành về các tội xâm phạm sở hữu, thì có thể coi hậu quả nghiêm trọng do hành vi thiếu trách nhiệm gây ra là: Hậu quả nghiêm trọng do hành vi thiếu trách nhiệm gây ra là những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tài sản của con người; nhưng thiệt hại về tài sản, uy tín của cơ quan, tổ chức và những thiệt hại phi vật chất khác.

Theo thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi bạn đang làm cho một doanh nghiệp nhà nước và hiện bạn đang đi làm ở nước ngoài.Tuy nhiên trong thời gian bạn làm giám đốc công ty trưởng phòng tài chính đã lấy mất số tiền của công ty lên đến trên 2 tỷ nhưng do bạn quá tin tưởng trưởng phòng tài chính mà không kiểm tra sát xao về công việc cũng như thu chi của trưởng phòng tài chính nên đã gây hậu quả nghiêm trọng cho công ty. Mặc dù người đã lấy mất số tiền hơn 2 tỷ trên là trưởng phòng tài chính nhưng trong trường hợp này bạn cũng có lỗi trong việc không làm tốt công việc được giao trên cương vị một giám đốc công ty và căn cứ vào quy định trên thì trong trường hợp này bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng theo điều 285 Bộ luật hình sự.

Ngoài ra, bạn còn có thể bị xem xét kỷ luật lao động theo quy định của Bộ luật lao động 2012 và nội quy lao động của công ty.

>> Xem thêm:  Tội trộm xe máy thì bị xử lý như thế nào ? Tái phạm hành vi trộm cắp bị phạt thế nào ?

4. Vô ý chở người khác đi trộm có phạm luật không?

Thưa luật sư, tôi có người em trai tên T . T có người anh họ tên B. Có 1 lần anh B nhờ em tôi chở đi công việc. Khi nó chở đến thì quay xe ra về và khi nó ra về thì anh B có ăn trộm xe của người ở đó và bị camera an ninh quay lại cảnh T chở B vào và chạy ra 1 mình thì 1 lát sau anh B chạy xe ăn trộm ra.
T bị công an Quận A kêu lên điều tra và giam giữ xe để điều tra và lấy lời khai và T khai là không biết anh B vào đó ăn trộm xe và sau đó cho T về. Xin cho tôi hỏi trường hợp đó thì T có bị cho là đồng phạm không? Và liệu như vậy em tôi là T có bị xử án tù hay không?
Tôi xin cám ơn!

Luật sư trả lời:

- Thứ nhất là tội trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 173 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 có quy định cụ thể như sau:

Hình phạt chính Hình phạt bổ sung
- Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm (với khoản 1) Có thể bị hạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng

- Phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (với khoản 1)

- Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm (với khoản 2)

- Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm (với khoản 3)

- Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm (với khoản 4)

Tội này được phân tích cụ thể như sau:
Mặt khách quan: Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:
– Về hành vi. Có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Trên thực tế, hành vi này làm cho chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản không thể thực hiện được các quyền năng (gồm quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt hay quản lý) đối với tài sản của họ hoặc được giao quản lý, đồng thời những quyền này lại thuộc về người phạm tội và người này có thể thực hiện được các quyền này một cách trái pháp luật.
– Đặc trưng của hành vi chiếm đoạt được thực hiện (hành động) một cách lén lút, bí mật. Việc lén lút, bí mật là nhằm để che giấu hành vi phạm tội để chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản không biết việc chiếm đoạt đó.
– Đây cũng là dấu hiệu để phân biệt giữa tội trộm cắp tài sản với các tội có tính chiếm đoạt khác (như tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, cướp tài sản…)
Việc che giấu hành vi phạm tội có thể được thực hiện bằng những hình thức khác nhau, cụ thể là:
+ Che giấu toàn bộ hành vi: Trường hợp này, chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản không biết được bất cứ thông tin nào về người phạm tội cũng như hành vi phạm tội (ví dụ: Lợi dụng đêm tối, lẻn vào nhà người khác lấy trộm tài sản).
+ Che giấu một phần hành vi: Tức chỉ che giấu riêng hành vi phạm tội (ví dụ: Kẻ phạm tội giả vờ vào hỏi chủ nhà xin nước uống, giả vờ hỏi thăm đường đi… và nhanh tay trộm tài sản giấu vào người). Trong trường hợp này chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản biết rõ người phạm tội nhưng không biết hành vi phạm tội.
+ Che giấu tính chất của hành vi phạm tội: Được hiểu là hành vi phạm tội được diễn ra công khai nhưng không ai biết việc phạm tội (ví dụ: Lợi dụng đám cưới đông người, người giữ xe tưởng là bạn bè của cô dâu, chú rể nên để cho kẻ phạm tội tự do dắt xe khỏi nơi giữ do mình quản lý).
– Dấu hiệu khác. Về giá trị tài sản chiếm đoạt: Giá trị tài sản chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu giá trị tài sản dưới hai triệu đồng thì phải thuộc các trường hợp: Gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản (như tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội cướp tài sản, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản…) nhưng chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì ngưòi thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.

- Thứ hai là quy định về đồng phạm

Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định như sau:

Điều 17. Đồng phạm

1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.
2. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.
3. Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.
Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.
Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.
Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.
Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.
4. Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành.

Như vậy, theo quy định pháp luật trên thì đồng phạm phải là hai người trở lên cùng cố ý thực hiện tội phạm do đó theo dữ liệu bạn đưa ra thì em bạn (T) không hề biết anh B có hành vi trộm cắp, chỉ biết chở B đi công việc theo lời nói của B do đó việc T chở B đi không thể xác định là đồng phạm. Hành vi của T khi chở B đi công việc chưa đủ cấu thành nên tội phạm quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên do T là người chở anh B do đó việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền mời/triệu tập anh T tới trụ sở của họ để lấy lời khai là có sở sở theo quy định tại Khoản 4 Điều 163 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 quy định như sau:

"....4. Cơ quan điều tra có thẩm quyền điều tra những vụ án hình sự mà tội phạm xảy ra trên địa phận của mình. Trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm thì việc điều tra thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can cư trú hoặc bị bắt...."

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hình sự về tội trộm cắp tài sản trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.0159 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Trộm chó sẽ bị xử lý như thế nào ? Chưa đủ 17 tuổi mà trộm cắp thì bị phạt thế nào ?

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Xe trộm cắp đem đi cầm cố chủ hộ kinh doanh đi tiêu thụ phải ngồi tù ?